Trường Kỹ Thuật Và Công Nghệ – Đại Học Huế

Trường KỸ THUẬT VÀ CÔNG NGHỆ thuộc ĐH HUẾ

Tên tiếng Anh: School of Engineering and Technology – Hue University (HUET)

Ký hiệu trường: DHE

Hệ đào tạo: Đại học – Sau đại học – Liên kết quốc tế

Danh sách các nhóm ngành đào tạo trình độ đại học

Danh sách các ngành nghề đào tạo cấp IV trình độ Đại học

Danh mục giáo dục đào tạo cấp IV trình độ Thạc sĩ (Cao học)

Danh mục giáo dục đào tạo cấp IV trình độ Tiến sĩ (Tiến sĩ khoa học)

CS1: 01 Điện Biên Phủ, Vĩnh Ninh, TP Huế

CS2: 05 Hà Nội, Vĩnh Ninh, TP Huế

Điện thoại: (+84) 0234 3845 799

Email: huet@hueuni.edu.vn

Website: https://huet.hueuni.edu.vn/

Facebook: https://www.facebook.com/huet.hueuni/

Sứ mạng School of Engineering and Technology – Hue University (HUET)

Khoa Kỹ thuật và Công nghệ – Đại học Huế có sứ mạng Đào tạo, nghiên cứu, chuyển giao khoa học và công nghệ, phục vụ cộng đồng, cung ứng nguồn nhân lực chất lượng cao các lĩnh vực kỹ thuật và công nghệ.

Tầm nhìn School of Engineering and Technology – Hue University (HUET)

Đến năm 2030 trở thành trường Đại học thành viên của Đại học Huế

Giá trị cốt lõi School of Engineering and Technology – Hue University (HUET)Sáng tạo – Chất lượng – Hội nhập

Mục tiêu School of Engineering and Technology – Hue University (HUET)  Mục tiêu chung

Nhằm thúc đẩy phát triển kỹ thuật công nghệ và đầu mối công nghệ nguồn từ các nước tiên tiến vào khu vực miền Trung – Tây Nguyên.

 Mục tiêu cụ thể đến School of Engineering and Technology – Hue University (HUET)

– Đạt quy mô 3000 sinh viên, đào tạo chủ yếu bằng các chương trình tiên tiến và chất lượng cao đảm bảo cung ứng nguồn nhân lực chất lượng cao, tiến tới thành lập Trường Đại học Kỹ thuật và Công nghệ thuộc Đại học Huế.

– Thực hiện 6-8 chương trình đào tạo bậc đại học và sau đại học liên kết với các trường tiên tiến ở trong nước và các nước phát triển với quy mô tuyển sinh hàng năm giai đoạn 2020-2025 từ 300-600 sinh viên và giai đoạn 2026-2030 là 700-1000 sinh viên nhằm cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho xã hội.

– Hàng năm thực hiện 4-5 chương trình nghiên cứu, chuyển giao 2-3 kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ theo nhu cầu xã hội, đa dạng hóa nguồn thu từ kết quả nghiên cứu, tăng cường hợp tác doanh nghiệp trong lĩnh vực kỹ thuật công nghệ hướng đến tự chủ chi thường xuyên.

Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (VNU – HCM)

Nằm ở khu vực phía Đông TP.HCM – đô thị phát triển bậc nhất Việt Nam, ĐHQG-HCM được Chính phủ Việt Nam thành lập vào năm 1995 nhằm kiến tạo một trung tâm đào tạo đại học, sau đại học và nghiên cứu khoa học – công nghệ đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao, đạt trình độ tiên tiến, làm nòng cốt cho hệ thống giáo dục đại học, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội.

Tên trường: Đại học Quốc gia TP.HCM

Tên tiếng anh: Vietnam National University –  Ho Chi Minh City (VNU – HCM)

Hệ đào tạo: Đại học – – Tại chức – Liên thông – Sau đại học – Liên kết quốc tế

Danh sách các ngành nghề đào tạo cấp IV trình độ Đại học

Danh sách các nhóm ngành đào tạo trình độ đại học

Danh mục giáo dục đào tạo cấp IV trình độ Thạc sĩ (Cao học)

Danh mục giáo dục đào tạo cấp IV trình độ Tiến sĩ (Tiến sĩ khoa học)

Địa chỉ: Phường Linh Trung, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam

Điện thoại: (+84-28) 37.242.181

Email: info@vnuhcm.edu.vn

Website: https://vnuhcm.edu.vn/

Facebook: www.facebook.com/vnuhcm.info/

Các đơn vị thành viên Đại học Quốc gia TP. HỒ CHÍ MINH

Trường Đại học Bách Khoa – ĐHQG TP.HCM

Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – ĐHQG TP.HCM

Trường Đại học KHXH và Nhân văn – ĐHQG TP.HCM

Trường Đại học Quốc tế – ĐHQG TP.HCM

Trường Đại học Công nghệ Thông tin – ĐHQG TP.HCM

Trường Đại học Kinh tế – Luật – ĐHQG TP.HCM

Trường Đại học An Giang – ĐHQG TP.HCM

Trường Đại học Khoa học Sức khỏe – ĐHQG TP.HCM

Viện Môi trường và Tài nguyên – ĐHQG TP.HCM

Với tổng diện tích 643,7 hecta theo mô hình đô thị đại học hiện đại, ĐHQG-HCM là một trong những cơ sở giáo dục lớn nhất Việt Nam với 36 đơn vị, trong đó có 8 trường đại học thành viên (Trường đại học Bách Khoa, Trường đại học Khoa học Tự nhiên, Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường đại học Quốc Tế, Trường đại học Công nghệ Thông tin, Trường đại học Kinh tế – Luật, Trường đại học An Giang, Trường đại học Khoa học Sức khoẻ), 1 viện nghiên cứu khoa học thành viên (Viện Môi trường và Tài nguyên), 1 Phân hiệu tại tỉnh Bến Tre và 25 đơn vị trực thuộc là các tổ chức khoa học và công nghệ, thư viện, các tổ chức phục vụ đào tạo, dịch vụ.

ĐHQG-HCM đào tạo 93.939 sinh viên đại học, 7.122 học viên cao học, 995 nghiên cứu sinh, cùng đội ngũ học giả với 34 giáo sư, 312 phó giáo sư và 1.197 tiến sĩ. Là hệ thống giáo dục đại học hàng đầu Việt Nam, chương trình đào tạo của ĐHQG-HCM gồm các lĩnh vực: khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, kỹ thuật công nghệ, quản lý kinh tế – luật, khoa học sức khỏe và khoa học nông nghiệp… với 3 trình độ: đại học (138 ngành), thạc sĩ (118 ngành) và tiến sĩ (86 ngành)*.

Xác định tầm nhìn trở thành hệ thống đại học nghiên cứu trong tốp đầu châu Á, ĐHQG-HCM nhiều năm liên tiếp được Tổ chức Giáo dục Quacquarelli Symonds Asia xếp hạng thuộc top 150 ĐH hàng đầu châu lục này. Từ năm 2019, ĐHQG-HCM duy trì thứ hạng thuộc top 701-750 do Tổ chức Giáo dục Quacquarelli Symonds (QS) Anh quốc đánh giá trên 1.000 trường đại học hàng đầu thuộc 82 quốc gia.

Gắn kết và phục vụ cộng đồng là một trong những giá trị cốt lõi mà ĐHQG-HCM xây dựng. Từ năm 2016 đến nay, toàn ĐHQG-HCM thực hiện trên 3.000 hợp đồng chuyển giao công nghệ với tổng doanh thu trung bình hằng năm đạt khoảng 250 tỷ đồng. Cùng mạng lưới đối tác học thuật quốc tế là các tổ chức giáo dục hàng đầu từ châu Á, châu Âu, châu Mỹ và châu Úc, ĐHQG-HCM đã chủ động cập nhật các xu hướng giáo dục tiến bộ nhất trong hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, nhằm nâng cao vị thế và uy tín trong cộng đồng học thuật quốc tế.

“Thúc đẩy tiến bộ xã hội” là lý tưởng mà các đại học hàng đầu thế giới theo đuổi. Đây cũng chính là sứ mạng mà ĐHQG-HCM cam kết thực hiện.

Đại học Công Đoàn University (TUU)

Tên trường: Đại học Công đoàn

Tên tiếng Anh: Trade Union University (TUU)

Mã trường: LDA

Loại trường: Công lập

Hệ đào tạo: Đại học – Sau đại học – Văn bằng 2 – Liên thông – Tại chức

Danh sách các ngành nghề đào tạo cấp IV trình độ Đại học

Danh sách các nhóm ngành đào tạo trình độ đại học

Danh mục giáo dục đào tạo cấp IV trình độ Thạc sĩ (Cao học)

Danh mục giáo dục đào tạo cấp IV trình độ Tiến sĩ (Tiến sĩ khoa học)

Địa chỉ: 169 Tây Sơn, Đống Đa, Hà Nội

SĐT: (84-4)3.857.3204

Email: dhcongdoan@dhcd.edu.vn

Website: http://www.dhcd.edu.vn/

Facebook: www.facebook.com/tuu.com.vn/

CAM KẾT ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO: Chất lượng đào tạo là nhiệm vụ chính trị hàng đầu và là yếu tố sống còn của bất kỳ cơ sở đào tạo nào, nó xác định uy tín, thương hiệu của một cơ sở đào tạo và cũng quyết định sự tồn tại của cơ sở đào tạo đó. Chính vì lẽ đó, việc không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo được Trường Đại học Công đoàn coi là một trong những nhiệm vụ hàng đầu.

Trường Đại học Công đoàn cam kết thực hiện các nội dung trọng tâm sau đây để đảm bảo chất lượng đào tạo trong Nhà trường. Chương trình đào tạo Định kỳ đánh giá chương trình đào tạo, tranh thủ các ý kiến đóng góp của cựu sinh viên, nhà tuyển dụng và của doanh nghiệp để hoàn thiện chương trình các ngành đào tạo theo hướng tiến tiến, phù hợp với nhu cầu thực tiễn và đảm bảo tính liên thông giữa các ngành và bậc đào tạo.

 Nghiên cứu và áp dụng các chương trình đào tạo tiên tiến của khu vực và thế giới. Nghiên cứu xây dựng và đưa vào giảng dạy kỹ năng mềm cho sinh viên. Hiện Nhà trường hầu hết các học phần có giáo trình và tài liệu tham khảo phù hợp với mục tiêu đào tạo và chuẩn đầu ra.

 Tổ chức đào tạo-Tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ cho trình độ Đại học, Cao đẳng, Sau đại học.Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng lấy sinh viên làm trung tâm, gắn hoạt động đào tạo với thực tế.Kiểm soát tốt các hoạt động đào tạo ngoài trường để đảm bảo chất lượng đào tạo đồng đều giữa các loại hình đào tạo. Hệ thống quản lý đào tạoHoàn thiện hệ thống phần mềm quản lý đào tạo, học hỏi kinh nghiệm và áp dụng các hình thức quản lý đào tạo tiên tiến.

 Luôn cập nhật và đổi mới phần mềm quản lý để hiện đại hóa tin học toàn bộ quá trình quản lý. Áp dụng quy trình đào tạo tiên tiến, hợp lý, tạo điều kiện học tập tốt nhất cho sinh viên.

 Hoàn chỉnh hệ thống văn bản quy phạm quản lý đào tạo, công bố rộng rãi đến sinh viên.. Đội ngũ giảng viên. Tổng số giảng viên của nhà trường là 262, trong số đó có: 01 Giáo sư; 10 Phó Giáo sư, 01 tiến sỹ khoa học; 113 Tiến sĩ, 130 Thạc sĩ và 17 cử nhân.

Tỉ lệ sinh viên/giảng viên đạt tiêu chuẩn Bộ GDĐT quy định.Giảng viên được tạo điều kiện học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ trong và ngoài nước hàng năm.Thường xuyên tổ chức các lớp phương pháp giảng dạy tích cực nhằm nâng cao hơn nữa khả năng giảng dạy của giảng viên. Tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động nghiên cứu khoa học, mọi giảng viên đều có sản phẩm nghiên cứu khoa học phục vụ đào tạo.

 Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên. Minh bạch, khách quan, công bằng trong đánh giá kết quả học tập của sinh viên thông qua thực hiện độc lập quá trình đánh giá kết quả học tập của người học, và đảm bảo sự độc lập hai quá trình: giảng dạy và đánh giá.

Kiểm định chất lượng      Phòng Khảo thí và đảm bảo chất lượng; Phòng Thanh tra có chức năng phối hợp với các khoa, bộ môn tổ chức thi kết thúc các học phần từng học kỳ và thực hiện các nhiệm vụ khác là: Đầu mối đánh giá chất lượng đào tạo của trường theo 10 tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục của Bộ Giáo dục & Đào tạo; thực hiện việc lấy ý kiến sinh viên về hoạt động giảng dạy của giảng viên và các hoạt động phục vụ đào tạo; kiểm tra việc chấp hành giờ lên lớp của giảng viên; định kỳ bổ sung báo cáo tự đánh giá, kiểm soát việc thực hiện kế hoạch khắc phục những tồn tại trong báo cáo tự đánh giá…

Về điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ giảng dạy học tập.Đảm bảo đủ phòng học, phòng thực hành cho sinh viên, tỉ lệ sinh viên/diện tích phòng học theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Hệ thống internet tốc độ cao phục vụ đầy đủ nhu cầu giảng dạy, nghiên cứu khoa học, học tập..Trang thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập như: Hệ thống máy chiếu, âm li, loa, míc, bảng, bàn ghế…được quan tâm đầu tư đầy đủ và đảm bảo chất lượng; nâng cấp thư viện theo hướng hiện đại, nhằm phục vụ tốt nhất nhu cầu người học.Về hoạt động hỗ trợ học tập, sinh hoạt cho người học

Nâng cấp hệ thống nhà ăn, nhà tập đa năng, sân chơi thể thao cho sinh viên.Thường xuyên tổ chức các phong trào văn hoá văn nghệ, thể dục thể thao, hoạt động ngoại khoá, các câu lạc bộ tiếng Anh, câu lạc bộ Tin học, câu lạc bộ Nhà quản trị doanh nghiệp tài ba và tư vấn hướng nghiệp cho sinh viên…

          Năng lực của người học sau khi tốt nghiệp=  Chuẩn đầu ra cho sinh viên tốt nghiệp các chương trình đào tạo bậc đại học tại Trường Đại học Công đoàn (sau đây gọi tắt là “Chuẩn đầu ra”), gồm:Kiến thức và kỹ năng chung Kiến thức chung  Có trình độ lý luận chính trị Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh: + Nắm chắc những nguyên lý cơ  bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. + Hình thành được thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận trong học tập, nghiên cứu và giải quyết các vấn đề thực tiễn.

          Có kiến thức cơ bản trong lĩnh vực khoa học xã hội và khoa học tự nhiên:+ Hiểu và có khả năng vận dụng các quy luật cơ bản trong lĩnh vực tự nhiên, xã hội và nhân văn vào thực tế nghề nghiệp.Thái độ hành    Có phẩm chất đạo đức đạt được các yêu cầu của Quy chế đánh giá kết quả rèn luyện của học sinh, sinh viên các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp ban hành kèm theo quyết định số 16/2015/QĐ- BGDĐT ngày 12/8/2015 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

          Có hiểu biết và phẩm chất chính trị tốt. Coi trọng ý thức công dân ý thức chấp hành pháp luật và ý thức cộng đồng trong hành vi ứng xử hàng ngày. Có ý thức về phẩm chất, giá trị đạo đức, nghề nghiệp, trung thực, liêm khiết, có tính kỷ luật, tôn trọng các quy định, quy chế, nội quy của đơn vị.

Kỹ năng chung      – Đạt được trình độ ngoại ngữ theo chuẩn chung của Trường Đại học Công đoàn: Trình độ tiếng Anh theo chuẩn TOEIC 450.+ Có khả năng giao tiếp với những người nước ngoài. Có thể mở đầu những cuộc hội thoại trong những chủ đề hạn chế.

          + Có khả năng hiểu những yêu cầu và những tình huống thông thường. + Đọc, hiểu và soạn thảo các tài liệu và các văn bản thuộc chuyên ngành đào tạo.– Đạt được chuẩn kiến thức tin học, sử dụng hiệu quả phần mềm văn phòng và các dịch vụ chính của internet. + Kỹ năng đánh máy tính, kỹ năng cơ bản.

          + Có khả năng ứng dụng tin học trong hoạt động chuyên môn. – Lý luận và nghiệp vụ Công đoàn: Nắm vững những kiến thức cơ bản về vấn đề cơ bản về Công đoàn.+ Sự ra đời và phát triển của tổ chức Công đoàn Việt Nam, + Hệ thống tổ chức, tính chất, vị trí, vai trò, chức năng công đoàn và các mặt công tác của tổ chức Công đoàn Việt Nam và của Công đoàn cơ sở. + Các nguyên tắc tổ chức, nguyên tắc hoạt động và phương pháp hoạt động của công đoàn.

Kiến thức và kỹ năng chuyên môn Kiến thức chuyên môn: Nắm vững và vận dụng thành thạo kiến thức chuyên môn. Kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp.  Hiểu biết và thành thạo các kiến thức nghề nghiệp.        Khả năng đáp ứng cơ hội nghề nghiệp – Có khả năng khởi nghiệp trên lĩnh vực được đào tạo.– Có thể làm việc trong các loại hình doanh nghiệp, các cơ quan nhà nước, đoàn thể, các vụ, viện, trường học…. Khả năng học tập nâng cao trình độ sau khi tốt nghiệp.  Đủ điều kiện tiếp tục học tập, nâng cao trình độ ở bậc cao hơn.

Quy chế tuyển sinh, trúng tuyển quy đổi tương đương về một thang điểm chung

Bộ GD&ĐT đề xuất, điểm xét tuyển, trúng tuyển của các phương thức, tổ hợp môn phải được quy đổi tương đương về một thang điểm chung.Hạn chế xét tuyển sớm Đăng ký, điều chỉnh nguyện vọng xét tuyển: Thí sinh đăng ký, điều chỉnh, bổ sung nguyện vọng xét tuyển (không giới hạn số lần)

Bộ GD&ĐT vừa công bố Dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế tuyển sinh trình độ đại học, tuyển sinh trình độ cao đẳng ngành Giáo dục Mầm non. Theo đó, Bộ GD&ĐT đề xuất, các điểm xét, điểm trúng tuyển của các phương thức, tổ hợp môn sử dụng để xét tuyển phải được quy đổi tương đương về một thang điểm chung, thống nhất đối với từng chương trình, ngành, nhóm ngành đào tạo. Đây là điều mới, chưa từng triển khai trước đây.

Lý giải điều này, bà Nguyễn Thu Thủy – Vụ trưởng Giáo dục đại học (Bộ GD&ĐT) cho hay, những năm vừa qua, hầu hết cơ sở đào tạo phân bổ chỉ tiêu riêng cho từng phương thức xét tuyển, thậm chí cho từng tổ hợp môn xét tuyển; từ đó áp dụng các tiêu chí xét tuyển để tính điểm xét của thí sinh và xác định điểm trúng tuyển từ cao xuống thấp cho tới hết chỉ tiêu của từng phương thức, tổ hợp môn xét tuyển.

Điều này giúp các trường có thể sử dụng xét tuyển sớm để chủ động hoàn thành kế hoạch tuyển sinh. Tuy nhiên, khó có cơ sở khoa học hay thực tiễn cho việc phân bổ chỉ tiêu giữa các phương thức hay tổ hợp xét tuyển của một ngành đào tạo, dẫn tới xuất hiện những vấn đề như: chênh lệch điểm trúng tuyển một cách bất hợp lý giữa các phương thức, tổ hợp môn xét tuyển; đồng thời đẩy điểm chuẩn của phương thức xét tuyển theo điểm thi tốt nghiệp THPT lên cao do chỉ tiêu dành cho phương thức này không còn nhiều, đặc biệt là ở các ngành, trường “hot”.

Vô hình trung gây bất công bằng về cơ hội cho những thí sinh không có điều kiện tiếp cận nhiều phương thức xét tuyển. Vì vậy, dự thảo sửa đổi quy chế lần này quy định cơ bản thống nhất áp dụng quy đổi tương đương điểm xét của các phương thức, tổ hợp môn xét tuyển về một thang điểm chung, thống nhất đối với mỗi chương trình, ngành, nhóm ngành đào tạo, trên cơ sở đó xác định điểm trúng tuyển từ cao xuống thấp cho hết chỉ tiêu của chương trình, ngành, nhóm ngành đào tạo, trừ trường hợp xét tuyển thẳng, xét tuyển sớm các thí sinh có năng lực, thành tích vượt trội.

Dự thảo cũng quy định cách thức quy đổi phải bảo đảm cơ hội cho mọi thí sinh có thể đạt mức điểm tối đa của thang điểm chung đồng thời không có thí sinh nào có điểm xét vượt mức điểm tối đa này.

Theo đó, các cơ sở đào tạo sẽ phải nghiên cứu để quy định lại việc cộng điểm các chứng chỉ ngoại ngữ và các điểm cộng ưu tiên khác, qua đó hạn chế việc lạm dụng gây bất công bằng giữa các thí sinh có điều kiện đầu tư cho học tập khác nhau.(những thí sinh xác nhận nhập học không được đăng ký nguyện vọng xét tuyển tiếp theo, trừ các trường hợp được thủ trưởng CSĐT cho phép không nhập học). Trong trường hợp chưa xác định nhập học, thí sinh có thể tiếp tục đăng ký NVXT trên hệ thống hoặc Cổng dịch vụ công quốc gia như những thí sinh khác để các CSĐT xét tuyển, nếu thí sinh trúng tuyển sẽ xác nhận nhập học theo lịch chung

Khi đó, tất cả thí sinh dự tuyển vào một ngành đào tạo sẽ được xét tuyển một cách công bằng dựa trên một thang điểm chung và một điểm chuẩn trúng tuyển chung, cơ hội trúng tuyển của những thí sinh có năng lực thực sự sẽ tăng lên và chất lượng đầu vào của các trường cũng tăng theo.

Các trường vẫn có cơ hội xét tuyển sớm để chủ động cạnh tranh tuyển được những thí sinh giỏi nhất, đồng thời các em có năng lực tốt nhất cũng vẫn có cơ hội trúng tuyển sớm để chủ động quyết định lựa chọn con đường học tập phù hợp nhất.

Theo bà Nguyễn Thu Thủy, quy định này sẽ tác động làm hạn chế việc xét tuyển sớm. Bên cạnh đó là quy định không xét tuyển sớm quá 20% chỉ tiêu. Những điều này sẽ góp phần khắc phục các bất cập phát sinh từ việc xét tuyển sớm. Các trường sẽ không phải dành quá nhiều thời gian và nguồn lực cho việc xét tuyển này hay việc nhiều học sinh lớp 12 lơ là học tập khi đã biết kết quả trúng tuyển.

Hai điểm mới cốt lõi Thí sinh phải xác nhận số lượng, thứ tự nguyện vọng xét tuyển trên hệ thống đồng thời nộp lệ phí xét tuyển theo số lượng nguyện vọng xét tuyển bằng hình thức trực tuyến.

Chia sẻ về những điểm mới cốt lõi của dự thảo so với quy chế hiện hành, Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học cho hay, dự thảo thông tư sửa đổi tập trung khắc phục những bất cập trong công tác tuyển sinh hiện nay.

Thứ nhất là việc cơ sở đào tạo sử dụng nhiều phương thức, tổ hợp môn xét tuyển đối với cùng một chương trình, ngành đào tạo, trong đó có việc một số cơ sở đào tạo dành quá nhiều chỉ tiêu cho xét tuyển sớm, hay việc quy định điểm cộng quá lớn cho các chứng chỉ ngoại ngữ.

Thứ hai, {dangkytuyensinh.edu.vn} là năm đầu tiên các học sinh học theo chương trình giáo dục phổ thông mới sẽ xét tuyển đại học. Vì vậy, cần đổi mới quy chế tuyển sinh để đáp ứng yêu cầu của những đổi mới trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018, tạo tác động tích cực tới việc dạy và học ở cấp trung học phổ thông.

Theo đó, những điểm mới cốt lõi gồm điều chỉnh quy định ngưỡng đảm bảo chất lượng đầu vào với nhóm ngành sư phạm, sức khoẻ; chỉ tiêu xét tuyển sớm do cơ sở đào tạo quy định nhưng không vượt quá 20% chỉ tiêu của từng ngành, nhóm ngành đào tạo; điểm xét, điểm trúng tuyển của các phương thức, tổ hợp môn sử dụng để xét tuyển phải được quy đổi tương đương về một thang điểm chung, thống nhất đối với từng chương trình, ngành, nhóm ngành đào tạo; xét tuyển bằng học bạ phải dùng kết quả học tập cả năm lớp 12 của thí sinh…

“Những nội dung sửa đổi, bổ sung khác chủ yếu mang tính kỹ thuật, tạo thuận lợi cho quá trình tổ chức đăng ký và xét tuyển” – bà Nguyễn Thu Thủy cho hay.

https://giaoducthoidai.vn/de-xuat-diem-xet-tuyen-trung-tuyen-quy-doi-tuong-duong-ve-mot-thang-diem-chung-post710127.html

 

Đánh Giá nâng cao hiệu quả trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục

Các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục góp phần tích cực trong triển khai hoạt động kiểm định, làm thay đổi nhận thức của cơ sở giáo dục đại học.

Sinh viên Trường Đại học Ngoại thương Theo GS.TS Huỳnh Văn Chương – Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng (Bộ GD&ĐT), công tác giám sát, tìm giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức này được quan tâm.

Giám sát thường xuyên– Hiện cả nước có 17 tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục trong và ngoài nước được thành lập và cấp phép hoạt động. Ông có thể cho biết, Bộ GD&ĐT đã thực hiện chức năng quản lý Nhà nước trong giám sát hoạt động các tổ chức này thế nào?

Tính đến 31/10/2024, cả nước có 2.109 chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục ĐH được cấp chứng nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng (gồm 1.492 chương trình đào tạo đánh giá theo tiêu chuẩn trong nước và 617 chương trình đào tạo đánh giá theo tiêu chuẩn nước ngoài). Có 208 cơ sở giáo dục ĐH được cấp chứng nhận kiểm định cơ sở, chiếm 85,9% tổng số cơ sở giáo dục ĐH cả nước (gồm 196 cơ sở giáo dục ĐH đánh giá theo tiêu chuẩn trong nước và 12 cơ sở giáo dục ĐH đánh giá theo tiêu chuẩn nước ngoài).

– Để thiết lập được hệ thống đánh giá, giám sát các hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục đại học, bảo đảm nguyên tắc độc lập, khách quan trong hoạt động kiểm định và phù hợp thông lệ quốc tế, Bộ GD&ĐT đã tham mưu Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình phát triển hệ thống bảo đảm và kiểm định chất lượng đối với giáo dục ĐH và CĐ sư phạm giai đoạn đăng ký Online, với các chỉ tiêu và nhiệm vụ chiến lược để phát triển hệ thống.

Trong {dangkytuyensinh.edu.vn}, Bộ GD&ĐT ban hành và triển khai Thông tư số 13/2023/TT-BGD&ĐT quy định việc giám sát, đánh giá kiểm định chất lượng giáo dục ĐH và CĐ sư phạm. Các cơ sở giáo dục ĐH cũng tích cực thực hiện trách nhiệm phản hồi về hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục theo yêu cầu của Thông tư.

Theo đó, các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục chịu sự giám sát thường xuyên của cơ quan quản lý Nhà nước thông qua cơ chế theo dõi định kỳ và phản hồi của cơ sở giáo dục ĐH đối với kiểm định viên, đoàn đánh giá ngoài, hội đồng kiểm định và sự đánh giá trực tiếp của bên thứ ba (thông qua hoạt động của đoàn đánh giá tổ chức kiểm định do Bộ GD&ĐT thành lập).

Cuối năm nay và đầu năm tới, Bộ GD&ĐT tổ chức Đoàn kiểm tra trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ theo quy định tại Nghị định số 99/2019/NĐ-CP đối với 7 tổ chức kiểm định trong nước để nắm tình hình và thực trạng, đề xuất cấp có thẩm quyền điều chỉnh chính sách về bảo đảm và kiểm định chất lượng giáo dục.

GS.TS Huỳnh Văn Chương. Bộ GD&ĐT đã ban hành Thông tư 13/2023/TT-BGDĐT quy định việc giám sát, đánh giá tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục ĐH và CĐ sư phạm.Trung tâm kiểm định trong nước quá tải- Qua kiểm tra, ông nhận thấy tình hình và kết quả hoạt động của các trung tâm kiểm định trong nước ra sao?

– Hoạt động kiểm định ở Việt Nam còn khá mới, được bắt đầu thực hiện thí điểm từ năm nay; nhưng đến năm tới mới có 2 tổ chức kiểm định trong nước được thành lập và cấp phép hoạt động.

Đến nay, Bộ GD&ĐT đã thành lập và cấp phép hoạt động cho tổng số 17 tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục trong và ngoài nước theo quy định của luật và nghị định có liên quan gồm: Thành lập và cho phép hoạt động đối với 4 trung tâm công lập; cho phép thành lập và hoạt động đối với 3 trung tâm tư theo đề nghị của Hiệp hội các trường ĐH, CĐ Việt Nam và các doanh nghiệp; 10 tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục nước ngoài được Bộ GD&ĐT công nhận hoạt động ở Việt Nam.

Các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục đã góp phần tích cực vào việc triển khai các hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục, làm thay đổi nhận thức của cơ sở giáo dục ĐH và xem hoạt động bảo đảm chất lượng là nhiệm vụ thường xuyên.

Thông qua công cụ là các bộ tiêu chuẩn kiểm định cơ sở (111 tiêu chí) và kiểm định chương trình đào tạo (51 tiêu chí) có thể bao quát đến mọi mảng công việc của một cơ sở giáo dục ĐH và không một đơn vị nào trong nhà trường lại đứng ngoài cuộc.

Theo đó, kiểm định là công cụ “chẩn đoán tổng thể” cho nhà trường, hệ thống giáo dục ĐH, nhằm tư vấn cải tiến chất lượng cho nhà trường và tham mưu cơ quan quản lý Nhà nước để điều chỉnh chính sách phù hợp qua từng giai đoạn. Kết quả kiểm định là một trong những phương cách mà nhà trường bao gồm cả trường tự chủ thực hiện trách nhiệm giải trình với xã hội của mình.

Việc ngày càng có nhiều cơ sở giáo dục ĐH Việt Nam tham gia kiểm định nước ngoài, được công nhận chất lượng là sự ghi nhận nỗ lực của các cơ sở này, cũng như cho thấy đang đi đúng theo kế hoạch bảo đảm và kiểm định chất lượng giáo dục ĐH của Thủ tướng Chính phủ theo Quyết định số 78/QĐ-TTg năm 2022.

Từ số liệu kết quả kiểm định chương trình đào tạo và cơ sở giáo dục cho thấy, dù có đến 7 trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục trong nước, hơn 10 tổ chức kiểm định nước ngoài, nhưng các trung tâm trong nước đang trong tình trạng quá tải. Lý do, nguồn lực kiểm định viên chưa phát triển theo yêu cầu thực tế, thiếu về số lượng theo từng nhóm, khối ngành và hạn chế về kinh nghiệm.

Vẫn còn tình trạng tư vấn, đánh giá của kiểm định chưa đáp ứng kỳ vọng của nhà trường, đặc biệt trong những vấn đề mang tính chiến lược hay kinh nghiệm trong xây dựng phát triển chương trình đào tạo mang tính chuyên sâu, đặc thù.

Dựa trên các nhóm nguyên tắc của hoạt động kiểm định theo quy định của Luật Giáo dục ĐH, kiểm định là một dịch vụ công do Nhà nước ủy quyền và giao cho các trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục ĐH thực hiện. Nhà trường được lựa chọn tổ chức kiểm định mà mình tin cậy dựa trên cơ sở uy tín của các tổ chức.

Các trường ĐH lớn có xu hướng kiểm định đa dạng theo các tiêu chuẩn của tổ chức kiểm định quốc tế và cả trong nước. Vì vậy, khi đăng ký kiểm định theo tiêu chuẩn trong nước, cơ sở giáo dục ĐH mong muốn lựa chọn được những trung tâm kiểm định uy tín.

Điều này cũng phần nào tạo ra hiệu ứng tốt như: Các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục phải lựa chọn kiểm định viên cẩn thận và tự nâng tầm quản trị, quản lý, hoạt động để hội nhập quốc tế.

Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục – Hiệp hội các trường ĐH, CĐ Việt Nam khảo sát sơ bộ phục vụ đánh giá chất lượng 2 chương trình đào tạo trình độ ĐH tại Trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long.Nhiều giải pháp nâng cao chất lượng kiểm định,Kiểm tra, giám sát thường xuyên các trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục

– Bộ GD&ĐT có những giải pháp nào để nâng cao hiệu quả công tác kiểm định chất lượng giáo dục ĐH trong thời gian tới?

– Bộ GD&ĐT sẽ tiếp tục rà soát, xây dựng, tích hợp các chính sách liên quan đến hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục ĐH để ngày càng tạo ra môi trường thuận lợi; bảo đảm các hoạt động này đi vào chiều sâu, phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo sự cạnh tranh lành mạnh giữa các tổ chức kiểm định, giúp cho công tác công khai, giải trình của các cơ sở giáo dục ĐH theo xu hướng tự chủ.

Đồng thời, tập trung nhiều giải pháp để nâng cao chất lượng thông qua hỗ trợ phát triển đội ngũ kiểm định viên có năng lực, chuyên sâu và tiếp cận với môi trường kiểm định chất lượng giáo dục ĐH quốc tế. Giúp các cơ sở giáo dục ĐH và tổ chức kiểm định xây dựng hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong thông qua việc xác định sứ mạng tầm nhìn và phát triển hệ thống quản trị kiểm soát nội bộ, mở rộng hợp tác quốc tế.

Bộ GD&ĐT sẽ hoàn thiện hành lang pháp lý về kiểm định chất lượng giáo dục và phối hợp với các bộ, ngành để hoàn thiện về cơ chế pháp lý, tài chính trong kiểm định, nhất là công tác đấu thầu tập trung vào chất lượng. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra thường xuyên, định kỳ cho các hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục và hợp tác quốc tế về bảo đảm, kiểm định chất lượng giáo dục.

– Xin cảm ơn ông! Theo GS.TS Huỳnh Văn Chương – Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng (Bộ GD&ĐT), từ khi có Luật Giáo dục ĐH và nhất là khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục ĐH được ban hành năm 2018 đến nay, Bộ GD&ĐT đã ban hành cơ bản đầy đủ các văn bản pháp luật để triển khai đối với hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục ĐH.

Các cơ sở giáo dục ĐH đã ý thức rõ trách nhiệm kiểm định không chỉ để có được tấm giấy chứng nhận, mà coi đây là hoạt động thường xuyên của nhà trường để nâng cao chất lượng, đồng thời là một tiêu chí để tăng cường hội nhập quốc tế.

Qua công tác kiểm định chất lượng, hệ thống quản trị, quản lý của nhà trường từng bước thay đổi dẫn đến chuyển biến hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong, đặc biệt là sự chuyển đổi từ mô hình đào tạo theo năng lực của nhà trường sang đào tạo theo chuẩn đầu ra, tiến tới theo năng lực của người học.

Đại học Kiến trúc University (HAU)

Tên trường: Đại học Kiến trúc Hà Nội

Tên tiếng Anh: Hanoi Architectural University (HAU)

Mã trường: KTA

Loại trường: Công lập

Hệ đào tạo: Đại học – Sau đại học – Văn bằng 2 – Liên thông – Liên kết quốc tế

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO CỦA MỘT SỐ NGHỀ TRÌNH ĐỘ SƠ CẤP

Chuẩn đầu ra các ngành Khung đào tạo trình độ trung cấp chuyên nghiệp

Các ngành đào tạo trình độ cao đẳng,Khung chương trình Các ngành đào tạo trình độ cao đẳng

Khung chương trình Các nghề đào tạo hệ cao đẳng nghề

Danh sách các nhóm ngành đào tạo trình độ đại học

Danh sách các ngành nghề đào tạo cấp IV trình độ Đại học

Danh mục giáo dục đào tạo cấp IV trình độ Thạc sĩ (Cao học)

Danh mục giáo dục đào tạo cấp IV trình độ Tiến sĩ (Tiến sĩ khoa học)

Địa chỉ: Km 10, Đường Nguyễn Trãi, Quận Thanh Xuân, Hà Nội

SĐT: 024.3854 1616

Website: http://www.hau.edu.vn/

Facebook: www.facebook.com/DHKIENTRUCHN/

Km 10, Đường Nguyễn Trãi, Quận Thanh Xuân , TP Hà Nội, Việt NamThực hiện Kế hoạch đánh giá chất lượng các chương trình đào tạo theo Bộ tiêu chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội công bố Dự thảo Báo cáo Tự đánh giá các chương trình đào tạo đại học bao gồm: Kiến trúc cảnh quan; Kỹ thuật cơ sở hạ tầng; Kỹ thuật cấp thoát nước; Quản lý xây dựng.Việc công bố này giúp cán bộ, giảng viên, nhân viên, người học và các bên liên quan có cơ hội tiếp cận Dự thảo Báo cáo tự đánh giá một cách chính thức và giúp Hội đồng Tự đánh giá, Ban Thư ký ghi nhận ý kiến đóng góp để hoàn thiện Dự thảo Báo cáo tự đánh giá.

Đại học Kiến trúc Hà Nội có một lịch sử lâu đời và phong phú, bắt đầu từ thời kỳ Việt Nam còn dưới sự thống trị của Pháp với tên gọi ban đầu là Trường Mỹ Thuật Đông Dương. Qua nhiều giai đoạn lịch sử, trường đã trải qua nhiều tên gọi trước khi được đổi tên chính thức thành Đại học Kiến trúc Hà Nội thông qua Quyết định 426/TTg của Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

Mục tiêu phát triển Hanoi Architectural University (HAU)

Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội đặt mục tiêu phấn đấu để trở thành một cơ sở đào tạo đa ngành và đa lĩnh vực. Trường tự hào phát triển với những đặc điểm riêng biệt và trở thành một địa chỉ đáng tin cậy. Trường hấp dẫn các nhà đầu tư trong lĩnh vực xây dựng cũng như các doanh nghiệp trong, ngoài nước.

 Cơ sở vật chất và mức học phí của trường.Cơ sở vật chất Hanoi Architectural University (HAU)

Trường đã xây dựng một tòa giảng đường cao 13 tầng với kiến trúc hiện đại, sạch sẽ và ấn tượng. Ngoài ra, thư viện điện tử của trường có hàng ngàn cuốn sách để phục vụ cho hoạt động giảng dạy và học tập của giảng viên và sinh viên. Để đảm bảo cơ sở vật chất tốt cho sinh viên, Đại học Kiến trúc Hà Nội cũng đã xây dựng một khu ký túc xá lớn, nằm trên khu đất của trường, đáp ứng nhu cầu về chỗ ăn ở và tiện nghi cho sinh viên.

>>> Xem thêm: Di chúc cần phải công chứng, chứng thực trong những trường hợp nào? Phí công chứng di chúc là bao nhiêu?

Như vậy, trên đây là giải đáp của chúng tôi về vấn đề “Thông tin địa chỉ Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội”. Ngoài ra, nếu có bất kỳ thắc mắc nào hoặc cần hỗ trợ pháp lý, quý khách vui lòng liên hệ trực tiếp với Văn phòng Công Thông Tin Tuyển Sinh Trực Tuyến theo thông tin:

 

Đại học Lâm nghiệp (VNUF)

Tên trường: Đại học Lâm nghiệp

Tên tiếng Anh: Vietnam National University of Forestry (VNUF)

Mã trường: LNH

Loại trường: Công lập

Hệ đào tạo: Đại học – Sau Đại học – Văn bằng 2 – Liên thông – Dự bị Đại học

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO CỦA MỘT SỐ NGHỀ TRÌNH ĐỘ SƠ CẤP

Chuẩn đầu ra các ngành Khung đào tạo trình độ trung cấp chuyên nghiệp

Các ngành đào tạo trình độ cao đẳng,Khung chương trình Các ngành đào tạo trình độ cao đẳng

Khung chương trình Các nghề đào tạo hệ cao đẳng nghề

Danh sách các nhóm ngành đào tạo trình độ đại học

Danh sách các ngành nghề đào tạo cấp IV trình độ Đại học

Danh mục giáo dục đào tạo cấp IV trình độ Thạc sĩ (Cao học)

Danh mục giáo dục đào tạo cấp IV trình độ Tiến sĩ (Tiến sĩ khoa học)

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP TRỤ SỞ CHÍNH

Địa chỉ: Thị trấn Xuân Mai, huyện Chương Mỹ, Hà Nội

Tel: 024 33840233 – Fax: 024 33840063

ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP PHÂN HIỆU TẠI ĐỒNG NAI

Địa chỉ: Thị Trấn Trảng Bom, Huyện Trảng Bom, Tỉnh Đồng Nai

Tel: 02513 866 242 – Fax: 02513 866 242

ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP PHÂN HIỆU TẠI GIA LAI

Địa chỉ: Tổ 4, Phường Chi Lăng, Thành phố Pleiku, Tỉnh Gia Lai. Tel: 0269 3747 706

Email: vfu@vfu.edu.vn

Website: https://vnuf.edu.vn/

Facebook: www.facebook.com/daihoclamnghiepfc/

Đại học Lâm nghiệp (Trường ĐHLN) trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn được thành lập theo Quyết định số 127/CP ngày 19/8/1964 của Hội đồng Chính phủ trên cơ sở tách Khoa Lâm nghiệp và Tổ Cơ giới khai thác Lâm nghiệp trong Trường Đại học Nông lâm (nay là Học Viện Nông nghiệp Việt Nam). Từ năm 1964 -1984, Trường đóng trên địa bàn 2 xã Bình Dương và An Sinh, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Năm 1984, Trường chuyển về và đóng trên địa bàn thị trấn Xuân Mai, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.

Sứ mạng:Vietnam National University of Forestry (VNUF)

– Là cơ sở giáo dục đại học hàng đầu về đào tạo, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu và phát triển, chuyển giao khoa học công nghệ về lĩnh vực lâm nghiệp, tài nguyên môi trường, kỹ thuật, công nghệ, kinh tế chính sách và quản lý, góp phần quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Tầm nhìn:Vietnam National University of Forestry (VNUF)

– Đến năm 2050, trở thành đại học đa ngành, định hướng nghiên cứu, ứng dụng đạt chất lượng đẳng cấp trong nước, khu vực và quốc tế; phát huy vị thế hàng đầu ở Việt Nam về đào tạo, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu khoa học và phát triển, chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ và kinh tế chính sách; giữ vững vị trí hàng đầu trong lĩnh vực lâm nghiệp, tài nguyên môi trường, phòng chống và giảm nhẹ thiên tai góp phần quan trọng cho sự phát triển bền vững của đất nước.

Mục tiêu chiến lược:Vietnam National University of Forestry (VNUF)

– Phát triển đào tạo và khoa học công nghệ theo hướng đa ngành, đa tầng, đa cấp độ và đa loại hình;

– Đổi mới quản trị đại học theo hướng tự chủ và hội nhập, tiếp tục giữ vững và phát huy vị thế hàng đầu của cả nước về lâm nghiệp, trở thành trường đại học theo định hướng nghiên cứu, ứng dụng và đạt chất lượng đẳng cấp trong nước, khu vực và quốc tế về lĩnh vực lâm nghiệp, tài nguyên môi trường, kỹ thuật, công nghệ, kinh tế chính sách, quản lý và phát triển nông thôn;

– Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt hàng đầu về lâm nghiệp và phát triển nông thôn.

Giá trị cốt lõi:Vietnam National University of Forestry (VNUF)

Trường Đại học Lâm nghiệp không ngừng phấn đấu để tạo ra “Văn hoá, Chất lượng Đại học Lâm nghiệp” đặc thù với 3 giá trị cốt lõi:

– Uy tín – Chất lượng (Thương hiệu của chúng tôi)

– Tôn trọng – Chia sẻ (Phương châm/nguyên tắc/lẽ sống của chúng tôi)

– Hội nhập – Bền vững (Sản phẩm của chúng tôi)

 

Nhóm ngành QUY HOẠCH VÀ KIẾN TRÚC

* Nhóm ngành KIẾN TRÚC VÀ QUY HOẠCH gồm có các ngành:

Mã ngành Tên ngành
7580101 Kiến trúc
7580102 Kiến trúc cảnh quan
7580103 Kiến trúc nội thất
7580104 Kiến trúc đô thị
7580105 Quy hoạch vùng và đô thị
7580106 Quản lý đô thị và công trình
7580108 Thiết kế nội thất
7580111 Bảo tồn di sản kiến trúc – đô thị
7580112 Đô thị học

 * Dưới đây là danh sách các trường đại học có tuyển sinh và đào tạo một hoặc một số ngành trong nhóm ngành trên: DANH SÁCH TẤT CẢ CÁC NGÀNH NGHỀ TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY
Điểm danh tên các ngành nghề với gần 300 ngành khác nhau, cùng với thông tin tuyển sinh, điểm chuẩn, chương trình đào tạo, các trường tuyển sinh và cơ hội việc làm trong những năm tới được Cổng Thông tin tuyển sinh cập nhật trong bài viết dưới đây:

Trong bối cảnh tốc độ đô thị hóa ở Việt Nam đang diễn ra nhanh chóng, vai trò của công tác quy hoạch vùng và đô thị ngày càng trở nên quan trọng với sự phát triển của đất nước và từng địa phương.>>>>Danh sách các trường Đại học khu vực miền Bắc

Tuy là ngành học còn khá mới tại Việt Nam nhưng Quy hoạch vùng và đô thị được đánh giá là ngành có cơ hội việc làm rộng mở và phù hợp với xu hướng phát triển của xã hội. Ngành này hướng tới đào tạo các kiến trúc sư quy hoạch làm việc chủ yếu trong lĩnh vực quy hoạch và phát triển đô thị, nông thôn.

Chương trình đào tạo ngành Quy hoạch vùng và đô thị Trao đổi với phóng viênTạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Lê Quỳnh Chi – Phụ trách bộ môn Quy hoạch vùng và đô thị, Trường Mã Ngành Xây dựng Hà Nội cho biết, Quy hoạch vùng và đô thị là ngành thiết kế không gian sống học tập, làm việc, vui chơi giải trí, thể thao, mua sắm, du lịch… bao gồm tất cả các không gian bên ngoài công trình.>>>>Danh sách các trường Đại học khu vực miền Trung & Tây Nguyên

Học ngành Quy hoạch vùng và đô thị, sinh viên sẽ được cung cấp kiến thức thiết kế từ các khu đô thị thông minh, hiện đại, các khu giải trí mang tầm quốc tế đến các tuyến phố đi bộ, tái sử dụng không gian nhà máy cho các hoạt động sáng tạo. Sinh viên vừa nắm được nghệ thuật để tạo nên các không gian đẹp, vừa nắm được kỹ thuật để không gian có thể xây dựng được.

Ngoài được trang bị kỹ năng về mặt diễn họa, thể hiện các không gian, sinh viên còn được rèn kỹ năng mềm để làm việc với nhiều đối tác, đặc biệt là cộng đồng cư dân địa phương.Tiến sĩ Lê Quỳnh Chi, phụ trách bộ môn Quy hoạch vùng và đô thị, Trường mã ngành Xây dựng. 

Bên cạnh đó nhà trường cũng chú trọng hợp tác chặt chẽ với doanh nghiệp để nâng cao chất lượng đào tạo. Thứ nhất là tổ chức chương trình thực tập tại các công ty tư vấn thiết kế, tập đoàn bất động sản và cơ quan quản lý. Thứ hai là kết nối với doanh nghiệp thông qua các môn học, đặc biệt là đồ án kết hợp giữa kiến thức nhà trường và nhu cầu thực tiễn của chủ đầu tư.

Sinh viên nhà trường được tiếp xúc với doanh nghiệp từ năm thứ 2, được đi khảo sát thực địa và trình bày phương án với doanh nghiệp. Đồng thời, các sản phẩm thiết kế của sinh viên cũng được chuyển giao cho doanh nghiệp.>>>>Danh sách các trường Đại học khu vực miền Nam

Ngoài ra, sự hợp tác với các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức quốc tế thông qua các dự án quy hoạch mang tính cộng đồng và xã hội cũng giúp sinh viên tiếp cận với các xu hướng mới, thể hiện trách nhiệm xã hội và nhận thức được giá trị công việc mình đang làm.

Trong khi đó, Thạc sĩ, Kiến trúc sư Nguyễn Phạm Kim Toàn – Trưởng Bộ môn Quy hoạch, Trường ngành Kiến trúc cho biết, ngành Quy hoạch vùng và đô thị cung cấp kiến thức cơ bản về khoa học xã hội, kinh tế và pháp luật cho việc học tập, nghiên cứu và làm việc trong lĩnh vực chuyên môn. Bên cạnh đó là kiến thức về lịch sử quy hoạch tiêu biểu ở Việt Nam và thế giới để kết nối kinh nghiệm, ứng dụng và hình thành quan điểm cá nhân. Qua đó, sinh viên sẽ xác định được các yếu tố về xã hội, môi trường trong quá trình thiết kế kiến trúc, quy hoạch và đánh giá được sự thích ứng của đô thị.

Về kỹ năng, sinh viên có kỹ năng trình bày quy trình thiết kế một đồ án kiến trúc, quy hoạch theo các tiêu chuẩn liên quan đến kiến trúc, quy hoạch vùng và đô thị. Đồng thời vận dụng kiến thức để phát triển chương trình thiết kế và giám sát thông qua nghiên cứu, phân tích hồ sơ.

Trong quá trình học, sinh viên có nhiều cơ hội trải nghiệm thực tế từ các môn học ứng dụng mô hình học tập gắn kết cộng đồng và hội thảo từ doanh nghiệp. Với học phần thực tập tốt nghiệp, sinh viên được trường gửi đến các đơn vị trong lĩnh vực chuyên ngành để thực tập trong vòng 6 tuần.

Sau mỗi chuyến đi thực tế, sinh viên có thêm nhiều ý tưởng trong việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp tăng tính nhận diện cho địa phương. Đồng thời gắn kết các yếu tố môi trường, kinh tế – xã hội để tạo ra những không gian đẹp, góp phần phát triển du lịch bền vững.

Sinh viên ngành Quy hoạch vùng và đô thị, Đại học Kiến trúc  tham gia khảo sát thực tế phục vụ môn học tại làng chài Cơ hội việc làm đa dạng nhưng cần nắm chắc nhiều kỹ năng

Theo Tiến sĩ Lê Quỳnh Chi, sinh viên tốt nghiệp ngành Quy hoạch vùng và đô thị có thể làm việc trong các cơ quan quản lý nhà nước, công ty tư vấn thiết kế, tập đoàn đầu tư. Cụ thể là thực hiện công tác quản lý đô thị, quản lý dự án đầu tư xây dựng, cấp phép tại các cơ quan quản lý nhà nước các cấp từ trung ương đến tỉnh/thành phố, quận/huyện, phường/xã.

Ngoài ra, sinh viên có thể trở thành nhà tư vấn, thực hiện các dự án thiết kế không gian từ quy mô đô thị đến các khu du lịch, các khu đô thị mới, các khu trung tâm công cộng, thiết kế các không gian nhỏ tại các đơn vị tư vấn hoặc tư vấn, quản lý dự án của chủ đầu tư. Sinh viên ra trường cũng có khả năng làm việc trong lĩnh vực bất động sản do có kiến thức, kỹ năng phân tích, xác định giá trị đất đai.

Để thực hiện tốt công việc, đòi hỏi sinh viên phải có kiến thức về nghệ thuật tổ chức không gian đẹp và khoa học, có khả năng diễn họa được ý tưởng không gian, có khả năng thuyết trình tốt để thuyết phục khách hàng. Đặc biệt, nếu sinh viên có khả năng ngoại ngữ tốt sẽ có nhiều cơ hội làm việc cho các doanh nghiệp liên doanh nước ngoài với mức lương cao.

Dự báo điểm chuẩn nhóm ngành Kiến trúc và xây dựng tăng từ 0.25-1 điểm Tiến sĩ Lê Quỳnh Chi cho biết, theo khảo sát hàng năm của Trường Đại học Xây dựng, tỷ lệ sinh viên ngành Quy hoạch vùng và đô thị ra trường có việc làm đạt trên 90%, trong đó trên 80% sinh viên làm việc đúng với ngành đào tạo.

“Nhiều sinh viên chỉ mất 6 tháng đến 1 năm làm việc thực tế để có những bước tiến vượt bậc, thậm chí có thể chủ trì thiết kế một số dự án quy hoạch. Điều này có được nhờ sự nỗ lực của bản thân sinh viên và nền móng kiến thức, kỹ năng, thái độ làm việc các em được trang bị.

Thực tế hiện nay, nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tìm kiếm kiến trúc sư quy hoạch, đặc biệt là kiến trúc sư quy hoạch có năng lực và kinh nghiệm thực tế. Do vậy, sinh viên quy hoạch ra trường không hề khó khăn trong việc tìm kiếm cơ hội việc làm”, cô Chi cho hay.

Hiện nay, nhiều doanh nghiệp lớn sẵn sàng nhận sinh viên năm 3, năm 4 vào làm việc bán thời gian. Đây cũng là cơ hội để các bạn có thêm kinh nghiệm làm việc ngay từ khi chưa tốt nghiệp. Với những kiến trúc sư quy hoạch có kinh nghiệm và năng lực quản lý, vận hành, tổ chức nhóm, đặc biệt nếu có kỹ năng thuyết trình, báo cáo làm việc với nhà đầu tư, chính quyền địa phương, các doanh nghiệp lớn sẵn sàng “trải thảm đỏ” mời các bạn về làm việc. Sau 3-5 năm tích lũy đủ kinh nghiệm, kiến thức nghề, kiến trúc sư có thể dễ dàng thành lập các văn phòng, công ty riêng để hoạt động.

Ngoài ra, sinh viên sau khi tốt nghiệp có nhiều cơ hội làm việc trong môi trường quản lý nhà nước như các phòng kinh tế và hạ tầng, quản lý đô thị, phòng quy hoạch ở các địa phương, sở ban ngành hay uỷ ban nhân dân các cấp.Sinh viên ngành Quy hoạch vùng và đô thị, HƯỚNG DẪN THI MÔN VẼ MỸ THUẬT NHÓM NGÀNH KIẾN TRÚC, QUY HOẠCH KỲ TUYỂN SINH ĐẠI HỌC.Tiến sĩ Lê Quỳnh Chi chia sẻ, ngành Quy hoạch vùng và đô thị là ngành có điểm đầu vào ở mức không quá khó và được giữ ổn định qua các năm. Hàng năm, ngành luôn thu hút đủ lượng sinh viên theo chỉ tiêu tuyển sinh với chất lượng đầu vào đảm bảo việc học tập.

“Sự quan tâm của thí sinh không chỉ thể hiện qua số lượng đầu vào mà còn ở sự trao đổi, tương tác trong thời gian dài trước đó giữa học sinh, phụ huynh và thầy cô thông qua trang fanpage ngành. Nhiều gia đình có phụ huynh, anh chị em đã theo học lĩnh vực quy hoạch tại Trường Đại học Xây dựng Hà Nội đã tin tưởng cho con em tiếp tục theo học”, cô Chi thông tin.

Anh Nguyễn Quang Huy, Trưởng phòng Quy hoạch 5, Viện Quy hoạch và Kiến trúc Đô thị đồng thời là cựu sinh viên Trường Đại học Xây dựng Hà Nội chia sẻ, công tác quy hoạch xây dựng hiện nay rất được chú trọng từ trung ương đến địa phương, ở cả các doanh nghiệp lẫn người dân.

Theo anh Huy, các kiến thức ở trường học giúp sinh viên có góc nhìn tổng quan về nghề, rèn tư duy thiết kế sáng tạo và được tham gia làm nhiều đồ án hoàn chỉnh. Tuy nhiên trong thực tế, khi bắt đầu bước chân vào nghề, kiến trúc sư phải làm từ những việc nhỏ nhất, đơn giản nhất, đòi hỏi tính kiên trì, cẩn thận, tỷ mỉ với mỗi công việc được giao.

“Sinh viên mới ra trường cần nắm chắc và sử dụng thành thạo các phần mềm cơ bản như các ứng dụng tin học văn phòng, Autocad, Photoshop… Ngoài ra, các bạn cần am hiểu hệ thống luật, nghị định, thông tư về lĩnh vực quy hoạch xây dựng. Để tiến xa hơn trong công việc, sinh viên cũng cần có kỹ năng thuyết trình, báo cáo, bảo vệ, kỹ năng phối hợp làm việc nhóm, khả năng tư duy sáng tạo trong thiết kế”, anh Nguyễn Quang Huy cho hay.Cần chuyển đổi hướng đào tạo dựa trên dự án thực tiễn HƯỚNG DẪN THI MÔN VẼ MỸ THUẬT NHÓM NGÀNH KIẾN TRÚC, QUY HOẠCH KỲ TUYỂN SINH ĐẠI HỌC

Chia sẻ về những thuận lợi và khó khăn trong công tác đào tạo ngành Quy hoạch vùng và đô thị Thạc sĩ, Kiến trúc sư Nguyễn Phạm Kim Toàn cho biết, Trường Đại học Kiến trúc Đà Nẵng có đội ngũ giảng viên chất lượng cao, cơ sở vật chất đáp ứng nhu cầu dạy và học. Nhiều khóa tốt nghiệp đảm bảo được yêu cầu công việc của các đơn vị quản lý nhà nước. Chất lượng sinh viên được khẳng định qua nhiều giải thưởng lớn do Hội Quy hoạch Phát triển Đô thị Việt Nam trao và đồ án tốt nghiệp của sinh viên.

Hàng năm, Trường Đại học Kiến trúc Đà Nẵng đều duy trì tuyển sinh ngành Quy hoạch vùng và đô thị với số lượng từ 100 – 120 sinh viên. Tuy nhiên, 5 năm gần đây, việc tuyển sinh gặp nhiều khó khăn và số lượng tuyển sinh không đạt yêu cầu bởi nhiều lý do khác nhau. Từ bối cảnh xã hội đến công việc, thu nhập và đặc thù của ngành nghề đều ảnh hưởng đến đến sự quan tâm của người học. Mặc dù số lượng đầu vào ít, nhà trường vẫn đảm bảo chất lượng đào tạo, chương trình học được rà soát, cải tiến liên tục để đáp ứng nhu cầu xã hội.

Thạc sĩ, Kiến trúc sư Nguyễn Phạm Kim Toàn cho biết thêm, những năm qua, hơn 80% sinh viên ngành Quy hoạch vùng và đô thị ra trường có việc làm theo đúng lĩnh vực, chuyên ngành đào tạo, hơn 10% sinh viên làm việc ở lĩnh vực có kiến thức liên quan.PGS.TS Nguyễn Đình Thi: Thí điểm đào tạo ngành liên quan đến đô thị là cấp bách HƯỚNG DẪN THI MÔN VẼ MỸ THUẬT NHÓM NGÀNH KIẾN TRÚC, QUY HOẠCH KỲ TUYỂN SINH ĐẠI HỌC

“Tuy nhiên, mức thu nhập của sinh viên mới ra trường ở các đơn vị như sở xây dựng các tỉnh thành, sở tài nguyên môi trường, viện quy hoạch xây dựng… chỉ được thanh toán theo định mức và hệ số lương rất hạn chế. Vì vậy, sinh viên ra trường phải rất nỗ lực, thậm chí làm thêm công việc khác để trụ lại với nghề. Điều này phần nào phản ánh công tác đào tạo ngành Quy hoạch vùng và đô thị chưa được xã hội đánh giá đúng vai trò”, Trưởng Bộ môn Quy hoạch, Trường Đại học Kiến trúc Đà Nẵng nhận định.

Đối với Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, việc đào tạo sinh viên ngành Quy hoạch vùng và đô thị có nhiều thuận lợi do đội ngũ giảng viên được đào tạo bài bản, có nhiều năm kinh nghiệm, mạng lưới kết nối với các doanh nghiệp và tổ chức quốc tế rộng. Nhà trường và khoa chú trọng xây dựng hệ sinh thái học tập sáng tạo, tổng hợp để sinh viên có thể giao lưu, trao đổi, phát triển bản thân.

Bên cạnh đó, sinh viên có nhiều cơ hội được đào tạo tích hợp, liên ngành bởi nhiều thầy cô, chuyên gia đến từ các lĩnh vực xây dựng khác nhau như kiến trúc dân dụng, xây dựng dân dụng, giao thông – cầu đường, kinh tế, môi trường, công nghệ thông tin…. Phong trào nghiên cứu khoa học, phong trào làm việc cùng các tổ chức phi chính phủ, tổ chức quốc tế, các hoạt động tham gia khóa học quốc tế ngắn hạn luôn diễn ra sôi nổi. Sinh viên có nhiều cơ hội tiếp cận và trải nghiệm thực tiễn trong tất cả các năm học.

Về mặt khó khăn, cô Chi cho biết, quy hoạch vùng và đô thị vẫn là khái niệm còn mơ hồ với cộng đồng, do đó học sinh phổ thông thường không định hình rõ mình sẽ học gì, làm gì khi học quy hoạch. Đối với sinh viên đã nhập học, điều này được khắc phục qua môn học giới thiệu ngành, cũng như các buổi giao lưu, tiếp xúc với doanh nghiệp và các khóa sinh viên.

Sinh viên ngành Quy hoạch vùng và đô thị, Trường Đại học NGÀNH QUY HOẠCH VÙNG VÀ ĐÔ THỊ, CHUYÊN NGÀNH QUY HOẠCH – KIẾN TRÚC thực hành môn học. 

Để nâng cao chất lượng dạy và học ngành Quy hoạch vùng và đô thị, Tiến sĩ Lê Quỳnh Chi nhận định, công tác truyền thông xã hội cần được đẩy mạnh hơn nữa. Với xu thế phát triển của ngành Quy hoạch vùng và đô thị trên thế giới, cần chuyển đổi hướng đào tạo từ đào tạo chủ yếu lý thuyết trên giảng đường sang đào tạo dựa trên dự án thực tiễn (project-based). Đây là xu hướng các nước đã chuyển đổi, trong đó chú trọng vào các dự án làm việc với cộng đồng.

Cô Chi mong muốn, với sự phát triển của công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, tổ hợp tuyển sinh đầu vào ngành Quy hoạch vùng và đô thị có thể mở rộng hơn nữa. Từ đó, năng lực về nghệ thuật và diễn họa có thể được đào tạo trên giảng đường đại học.

Ngoài ra, với xu hướng toàn cầu hóa, sinh viên cần được tăng cường cơ hội giao lưu với quốc tế, nhìn nhận vấn đề toàn cầu, giải quyết ở quy mô địa phương. Với sự phát triển của công nghệ thông tin, cần gắn kết chặt chẽ giữa công nghệ tiên tiến và kỹ thuật phân tích, thiết kế không gian, để sinh viên có thể tận dụng công nghệ tối đa, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo trong hỗ trợ thiết kế và dữ liệu lớn trong phân tích dữ liệu.

Ngành Quy hoạch vùng và đô thị cần được định hướng trở thành một lĩnh vực tổng hợp và đa ngành. Chương trình học được xây dựng theo hướng xuyên ngành, trong đó chuẩn đầu ra của sinh viên bao gồm kiến thức và kỹ năng của ngành Quy hoạch vùng và đô thị, cùng các lĩnh vực liên quan mật thiết như kinh tế đô thị, khoa học xã hội, công nghiệp văn hóa..

 

 

Các nhóm ngành THỦY SẢN, NÔNG NGHIỆP và LÂM NGHIỆP

* Nhóm ngành THỦY SẢN gồm có các ngành: Nhóm mã ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản Từ ngày 20/08/2018, Quyết định 27/2018/QĐ-TTg quy định về Hệ thống mã ngành kinh tế Việt Nam chính thức

Mã ngành Tên ngành
7620301 Nuôi trồng thuỷ sản
7620302 Bệnh học thủy sản
7620303 Khoa học thủy sản
7620304 Khai thác thuỷ sản
7620305 Quản lý thủy sản

 * Nhóm ngành NÔNG NGHIỆP gồm có các ngành:Từ ngày 20/08/2018, Quyết định 27/2018/QĐ-TTg quy định về Hệ thống mã ngành kinh tế Việt Nam chính thức

Mã ngành Tên ngành
7620101 Nông nghiệp
7620102 Khuyến nông
7620103 Khoa học đất
7620105 Chăn nuôi
7620109 Nông học
7620110 Khoa học cây trồng
7620112 Bảo vệ thực vật
7620113 Công nghệ rau hoa quả và cảnh quan
7620114 Kinh doanh nông nghiệp
7620115 Kinh tế nông nghiệp
7620116 Phát triển nông thôn

* Nhóm ngành LÂM NGHIỆP gồm có các ngành: Từ ngày 20/08/2018, Quyết định 27/2018/QĐ-TTg quy định về Hệ thống mã ngành kinh tế Việt Nam chính thức

Mã ngành Tên ngành
7620201 Lâm học
7620202 Lâm nghiệp đô thị
7620205 Lâm sinh
7620211 Quản lý tài nguyên rừng

* Dưới đây là danh sách các trường đại học có tuyển sinh và đào tạo một hoặc một số ngành trong các nhóm ngành trên:

Câu lạc bộ kiến nghị, sinh viên theo học nhóm ngành Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản được hưởng chế độ, chính sách như sinh viên sư phạm.Ngày {dangkytuyensinh.edu.vn}, Câu lạc bộ Khối đào tạo Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thủy sản thuộc Hiệp hội Các trường đại học, cao đẳng Việt Nam đã có văn bản kiến nghị một số giải pháp tháo gỡ khó khăn trong đào tạo nhân lực chất lượng cao phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn gửi Thủ tướng Chính phủ; Ban Tuyên giáo Trung ương; Bộ giáo dục và Đào tạo; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Văn bản nêu: Sau khi tham gia Hội thảo “Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực Nông, Lâm nghiệp và Thủy sản, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn” do Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp cùng Đại học Huế tổ chức vào đầu tháng 10/2024.

Tiếp thu tinh thần của hội thảo, Ban chủ nhiệm Câu lạc bộ Khối đào tạo Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thủy sản thuộc Hiệp hội Các trường đại học, cao đẳng Việt Nam đã bàn bạc và thống nhất kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ và các ban, bộ, ngành Trung ương một số nội dung.Ngành Di truyền và chọn giống cây trồng có “Hot”

Thứ nhất, về thực trạng: Câu lạc bộ Khối đào tạo Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thủy sản cho rằng, nông nghiệp và nông thôn Việt Nam đã phát triển vượt bậc trong thời gian qua, đang là thế mạnh, là trụ đỡ cho nền kinh tế của Việt Nam, rất cần được phát huy.>>Đại diện 8 trường ĐH tư vấn chọn ngành kỹ thuật, công nghệ, nông lâm

Tuy nhiên, nguồn nhân lực chất lượng cao thuộc lĩnh vực Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thủy sản đang và sẽ thiếu hụt rất lớn cả về số lượng và chất lượng so với nhu cầu trước mắt và lâu dài.

Trên thực tế, nhu cầu người học theo khối ngành Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thủy sản trong những năm gần đây rất thấp. Kết quả tuyển sinh đại học khối ngành Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thủy sản hằng năm của các học viện, trường đại học có xu hướng giảm nghiêm trọng. Chỉ đạt 30 – 50% so với chỉ tiêu cần tuyển và tuyển từ điểm sàn nên chất lượng sinh viên đầu vào rất thấp.

Trong khi đó, nhu cầu của các đơn vị tuyển dụng đối với người lao động trong lĩnh vực Nông nghiệp có trình độ từ Cao đẳng trở lên rất cao (xấp xỉ 46.000 người/năm). Thế nhưng, thực tế số lượng tuyển sinh hằng năm chỉ đáp ứng được khoảng 11,2% so với nhu cầu. Điều này dẫn tới nguy cơ tụt hậu về phát triển của nông nghiệp và nông thôn trong 5 – 7 năm tới.

Thứ hai, về những đề xuất:{dangkytuyensinh.edu.vn} Để sớm có giải pháp giải quyết những nút thắt trong đào tạo nguồn nhân lực ngành Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản nói riêng và quá trình phát triển của nông nghiệp và nông thôn nói chung trong giai đoạn trước mắt và lâu dài, Câu lạc bộ đã có một số kiến nghị như sau:

Một là, đề nghị có chính sách tăng cường đầu tư cho giáo dục đại học, có chính sách đặt hàng đào tạo đối với những ngành nghề truyền thống thiết yếu và khó tuyển sinh như Khoa học cây trồng, Khoa học đất, Lâm nghiệp, Chế biến lâm sản, Chăn nuôi, Thủy sản…;>>>Ngành Lâm Nghiệp Với Điều Thú Vị Về Nghề Kiểm Lâm

Kiến nghị Chính phủ và các ban, bộ, ngành thành lập Quỹ học bổng/kinh phí cấp bù ngân sách cho các trường đại học để hỗ trợ học phí và học bổng cho các sinh viên theo học nhóm ngành Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản như ngành Sư phạm (theo Nghị định 116/NĐ-CP ngày 25/6/2020 của Chính phủ về chính sách hỗ trợ tiền đóng học phí, chi phí sinh hoạt đối với sinh viên sư phạm).

Hai là, đề nghị có chiến lược và chính sách phù hợp cho hệ thống truyền thông nhằm chỉ đạo, định hướng thông tin cho xã hội, đặc biệt là giới trẻ có nhận thức đúng về vai trò quan trọng của Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thủy sản trong giải quyết các thách thức toàn cầu về lương thực và môi trường; là trụ đỡ cho nền kinh tế của Việt Nam;

Tôn vinh những người dám dấn thân làm việc trong ngành Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thủy sản; Đồng thời, cần có chính sách lương, thưởng, ưu đãi thỏa đáng cho lực lượng lao động trong lĩnh vực Nông nghiệp và Nông thôn.>>>Nhóm ngành NÔNG,LÂM,NGƯ NGHIỆP tại khu vực phía Bắc

Ngoài ra, Câu lạc bộ cho rằng cần đẩy mạnh truyền thông để nâng cao vai trò, trách nhiệm của các doanh nghiệp sử dụng nguồn nhân lực thuộc lĩnh vực Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thủy sản trong việc tái đầu tư cho đào tạo, nghiên cứu khoa học nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

 

 

Danh mục Ngành nghề Cao Đẳng Đào tạo cấp IV Trình độ CĐ Mới

Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã ban hành Danh mục ngành, nghề đào tạo cấp IV trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng.

Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 4 năm 2017 và bãi bỏ Thông tư số 21/2014/TT-BLĐTBXH ngày 26/8/2014 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định danh mục nghề đào tạo trình độ trung cấp nghề, trình độ cao đẳng nghề.>>> KHUNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG & TRUNG CẤP

Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các tổ chức chính trị – xã hội và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các cơ sở có đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp chịu trách nhiệm thi hành Thông tư này.

Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc hoặc có những ngành, nghề đào tạo mới phát sinh, đề nghị các cơ quan, tổ chức, cá nhân kịp thời phản ánh về Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội để hướng dẫn hoặc bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp.Xem chi tiết danh mục tại đây

Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 4 năm 2017 và bãi bỏ Thông tư số 21/2014/TT-BLĐTBXH ngày 26/8/2014 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định danh mục nghề đào tạo trình độ trung cấp nghề, trình độ cao đẳng nghề.262020TT-BLĐTBXH-đầu ra

Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các tổ chức chính trị – xã hội và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các cơ sở có đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp chịu trách nhiệm thi hành Thông tư này.

Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc hoặc có những ngành, nghề đào tạo mới phát sinh, đề nghị các cơ quan, tổ chức, cá nhân kịp thời phản ánh về Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội để hướng dẫn hoặc bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp.Xem chi tiết danh mục tại đây 

[Dangky.molisa.gov.vn] Bài viết cung cấp Danh sách các ngành nghề đào tạo cấp 4 trình độ Cao đẳng. Nghề nghiệp là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội.

Ngành đào tạo là tập hợp những kiến thức, kỹ năng chuyên môn liên quan đến một lĩnh vực khoa học hay một lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp nhất định.Thông tư số 04/2017/TT-BLĐTBXH ngày 02/3/2017 của Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội về việc Ban hành danh mục ngành, nghề đào tạo cấp IV trình độ Trung cấp, Cao đẳng.Xem chi tiết tại đây

Mã ngành đào tạo cấp IV – trình độ Cao đẳng được xác định như thế nào?

Mã ngành là chuỗi số liên tục gồm bảy (07) chữ số, trong đó từ trái sang phải được quy định như sau: chữ số đầu tiên quy định mã trình độ đào tạo (trung cấp, cao đẳng, đại học…); hai chữ số thứ hai và thứ ba quy định mã lĩnh vực đào tạo; hai chữ số thứ tư và thứ năm quy định mã nhóm ngành đào tạo; hai chữ số cuối quy định mã ngành đào tạo.

Ví dụ: 6140201

Giải thích nguyên tắc gán mã:

Chữ số đầu tiên: 6 là mã trình độ đào tạo Cao đẳng => Xem thêm: Danh mục Giáo dục, Đào tạo cấp I

Chữ số thứ 2 và 3: 14 là mã lĩnh vực đào tạo Khoa học giáo dục và đào tạo giáo viên => Xem thêm: Danh mục Giáo dục, Đào tạo cấp II

Chữ số thứ 4 và 5: 02 là mã nhóm ngành đào tạo Đào tạo giáo viên => Xem thêm: Danh mục Giáo dục, Đào tạo cấp III

2 chữ số cuối cùng: 01 là mã ngành đào tạo Sư phạm giáo dục nghề nghiệp

Như vậy,  6140201 là mã ngành Sư phạm giáo dục nghề nghiệp

 Danh mục giáo dục, đào tạo cấp IV trình độ cao đẳng:

Nguồn: DANH MỤC NGÀNH, NGHỀ ĐÀO TẠO CẤP IV TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG, Ban hành kèm theo Thông tư số 26/2020/TT-BLĐTBXH ngày 30 tháng 12 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.

Giáo dục cao đẳng, bậc cao đẳng, hệ cao đẳng, hay cao đẳng là một hệ đào tạo trong giáo dục đại học của nhiều nước trên thế giới; phân biệt với “bậc đại học” và “bậc sau đại học” vốn cũng thuộc giáo dục đại học. Giáo dục cao đẳng thường diễn ra trong các trường cao đẳng; tuy vậy, các đại học và trường đại học cũng thường có cả hệ cao đẳng. >> Xem thêm: Khung Cơ cấu Hệ thống Giáo dục Quốc dân Việt Nam.

Bên trên là Danh sách mã số cấp 4 của các ngành nghề đào tạo trình độ Cao đẳng ở Việt Nam. Bạn có thể dễ dàng tra cứu mã số mình cần. Ngoài ra, để dễ dàng tra cứu hơn bạn có thể tham khảo >> Danh mục Ngành nghề Việt Nam (đầy đủ các bậc đào tạo). Chúc bạn học tập thuận lợi!