Đề thi riêng có hơn 100 trường đại học ở phía Nam sẽ như thế nào?

Năm DangKytuyensinh.Edu.Vn ở phía Nam có 3 kỳ thi lớn: đánh giá năng lực do ĐH Quốc gia TPHCM tổ chức, đánh giá đầu vào trên máy tính – V-SAT, đánh giá năng lực chuyên biệt. Vậy đề thi riêng của các kỳ thi này sẽ như thế nào?

DangKytuyensinh.Edu.Vn Kỳ thi V-SAT, hơn 20 trường đại học cùng tổ chức. Đề thi 90% chương trình lớp 12, 10% kiến thức thuộc chương trình lớp 10 và lớp 11. Thí sinh làm bài thi trên máy tính, trong đó thời gian làm bài môn toán, ngữ văn 90 phút; các môn tiếng Anh, vật lí, hóa học, lịch sử, địa lý, sinh học là 60 phút.

Đề thi có 3 dạng câu hỏi gồm: câu trắc nghiệm đúng/sai; câu trắc nghiệm đối chiếu cặp đôi (ghép hợp) và câu trắc nghiệm trả lời ngắn.

Đối với câu hỏi trắc nghiệm đúng/sai gồm ba cột. Trong đó, một cột là danh sách những câu hỏi và hai cột còn lại là các ô trống để thí sinh dựa vào hiểu biết của mình đưa ra quyết định chọn đúng hoặc sai. Mỗi câu hỏi loại có 4 – 5 phương án lựa chọn.

Câu hỏi trắc nghiệm ghép hợp có nhiều lựa chọn. Loại câu hỏi này gồm hai cột, một cột là danh sách những câu/ý hỏi và một cột là danh sách các câu trả lời. Dựa trên một hệ thức tiêu chuẩn nào đó định trước, thí sinh tìm cách ghép những câu hỏi của cột này với các câu trả lời ở cột còn lại sao cho phù hợp. Số câu trong hai cột có thể bằng nhau hoặc khác nhau.

Phần để hỏi thường được đặt ở cột bên trái, đánh thứ tự câu/ý hỏi bằng chữ số (1,2, 3…): phần trả lời được đặt ở cột bên phải, đánh thứ tự bằng chữ cái latin (A, B, C,…)

Câu hỏi trắc nghiệm trả lời ngắn yêu cầu thí sinh tìm tòi ra câu trả lời của mình thay vì lựa chọn câu trả lời từ các phương án cho sẵn. Câu trả lời có thể là một từ, một con số, một biểu tượng hoặc một cụm từ, hay cũng có thể là một câu trả lời đơn giản…

Đánh giá năng lực do ĐH Quốc gia TPHCM tổ chức, gần 100 trường xét tuyển DangKytuyensinh.Edu.Vn

Bài thi gồm các phần sử dụng ngôn ngữ và toán học, đồng thời tăng số lượng câu hỏi của hai phần này để tăng độ tin cậy và độ phân biệt; phần logic – phân tích số liệu và giải quyết vấn đề được cấu trúc lại thành phần tư duy khoa học, nhằm đánh giá năng lực của thí sinh về logic và suy luận khoa học khi giải quyết các tình huống thực tế thuộc các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kinh tế và xã hội.

Các câu hỏi trong phần tư duy khoa học được xây dựng theo hướng cung cấp thông tin, số liệu, dữ kiện, hoạch định thí nghiệm và kết quả thực nghiệm. Thông qua đó, thí sinh thể hiện khả năng hiểu và vận dụng thông tin, xác định kết quả thực nghiệm, dự đoán quy luật.

Đề thi có 120 câu hỏi trắc nghiệm khách quan đa lựa chọn với 150 phút làm bài thi trên giấy. Kết quả thi được xác định bằng phương pháp trắc nghiệm theo lý thuyết ứng đáp câu hỏi. Điểm của từng câu hỏi có trọng số khác nhau tùy thuộc vào độ khó.

Điểm thi được quy đổi theo từng phần, với điểm số tối đa của bài thi là 1.200. Trong đó, điểm tối đa từng thành phần của bài thi được thể hiện trên phiếu điểm gồm: Tiếng Việt 300 điểm, Tiếng Anh 300 điểm, Toán học 300 điểm và Tư duy khoa học 300 điểm.

DangKytuyensinh.Edu.Vn Đánh giá năng lực chuyên biệt, hàng chục trường dùng kết quả

Đề được thiết kế phục vụ đối tượng dự thi là học sinh theo học chương trình giáo dục phổ thông 2018 tham dự các đợt thi tổ chức từ năm 2025, trong đó phần nội dung kiến thức chiếm 70-80% là chương trình lớp 12, còn lại là chương trình lớp 10 và 11.

Bài thi đánh giá năng lực tiếng Anh vẫn giữ hướng tiếp cận theo định dạng bài thi đánh giá năng lực từ bậc 3 đến bậc 5 theo khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam. Các môn còn lại có nhiều điểm cải tiến trong cấu trúc các bài thi với dạng thức câu hỏi áp dụng cho các bài thi gồm dạng câu hỏi trắc nghiệm và câu hỏi tự luận đóng/mở. Thời gian làm bài là 90 phút.

Các bài thi đánh giá năng lực toán, vật lí, hóa học, sinh học số lượng câu hỏi sẽ có 40 câu và được chia làm 3 phần: phần 1 là câu hỏi đơn, phần 2 là âu hỏi tổng hợp, phần 3 là câu hỏi điền đáp án đúng. Bài thi đánh giá năng lực Ngữ văn bao gồm phần đọc hiểu và phần viết.

Lê Huyền https://vietnamnet.vn/de-thi-rieng-nam-2025-vao-khoang-100-truong-dai-hoc-o-phia-nam-se-nhu-the-nao-2354497.html

Hội nhập Quốc tế CCT liên kết đào tạo với các đối tác của HOA KỲ

Dưới đây là danh sách các chương trình liên kết đào tạo quốc tế (đang hoạt động) giữa các cơ sở đào tạo của Việt Nam với các đối tác tại Mỹ:

TT

Cơ sở giáo dục

Việt Nam

Đối tác

nước ngoài

Văn băng

Chuyên ngành

đào tạo

1

Học viện Cảnh sát nhân dân

Trường Đại học Maryland

Thạc sĩ

Lãnh đạo trong lĩnh vực Tư pháp

2

Học viện Ngân hàng

Trường Đại học Thành phố Seatle

Đại học

Quản trị kinh doanh chuyên ngành Tài chính

3

Hội Khuyến học Việt Nam

Trường Đại học Nam Columbia

4

Khoa Quốc tế – ĐHQGHN

Trường Đại học Keuka

Đại học

Quản lý

5

Trường Đại học Bách khoa – ĐHQGHCM

Trường Đại học Illinois at Springfield

Đại học

Quản trị kinh doanh

6

Trường Đại học Bình Dương

Trường Đại học Benedictine

Thạc sĩ

Quản trị kinh doanh

7

Trường Đại học Công nghệ Sài Gòn

Trường Đại học Troy

Đại học

Quản trị kinh doanh

Khoa học máy tính

8

Trường Đại học Công nghệ TP Hồ Chí Minh

Trường Đại học Lincoln

Đại học

Quản trị kinh doanh

9

Trường Đại học Công nghệ TP Hồ Chí Minh

Trường Đại học Lincoln

Thạc sĩ

Quản trị kinh doanh

10

Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội

Trường Đại học Frostburg

Đại học

Khoa học máy tính

11

Trường Đại học Duy Tân

Trường Đại học Appalachian

Đại học

Quản trị kinh doanh

Kế toán

Khoa học máy tính

12

Trường Đại học Duy Tân

Trường Đại học Medaille

Đại học

Quản trị kinh doanh

Kế toán

13

Trường Đại học Duy Tân

Trường Đại học Upper Iowa

Đại học

Công nghệ thông tin

Quản trị kinh doanh

Quản trị tài chính

Hệ thống thông tin

14

Trường Đại học Giao thông Vận tải TP Hồ Chí Minh

Trường Đại học Bang Arkansas

Đại học

Kỹ thuật xây dựng

Kỹ thuật điện

Kỹ thuật cơ khí

15

Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – ĐHQGHCM

Trường Đại học Keuka

Đại học

Khoa học Quản lý

16

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQGHCM

Trường Đại học Benedictine

Thạc sĩ

Ngôn ngữ Anh

17

Trường Đại học Kinh tế – Luật – ĐHQGHCM

Trường Đại học Benedictine

Thạc sĩ

Quản trị kinh doanh

18

Trường Đại học Kinh tế – ĐHQGHN

Trường Đại học Troy

Đại học

Quản trị kinh doanh

19

Trường Đại học Kinh tế – ĐHQGHN

Trường Đại học Benedictine

Thạc sĩ

Quản trị kinh doanh

20

Trường Đại học Kinh tế – ĐHQGHN

Trường Đại học Troy

Thạc sĩ

Quản trị kinh doanh

21

Trường Đại học Kinh tế – ĐHĐN

Trường Đại học Keuka

Đại học

Quản trị

22

Trường Đại học Ngoại ngữ – ĐHQGHN

Trường Đại học Southern New Hampshire

Thạc sĩ

Lý luận và phương pháp dạy học tiếng Anh

23

Trường Đại học Ngoại ngữ – ĐHQGHN

Trường Đại học Southern New Hampshire

Đại học

Kinh tế – Tài chính

24

Trường Đại học Ngoại thương

Trường Đại học Minot

Đại học

Kinh doanh quốc tế

Tài chính

25

Trường Đại học Quốc tế – ĐHQGHCM

Trường Đại học Rutgers

Đại học

Kỹ thuật hệ thống công nghiệp

26

Trường Đại học Quốc tế – ĐHQGHCM

Trường Đại học Binghamton

Đại học

Kỹ thuật công nghiệp và hệ thống

27

Trường Đại học Quốc tế – ĐHQGHCM

Trường Đại học Binghamton

Đại học

Kỹ thuật máy tính

28

Trường Đại học Quốc tế – ĐHQGHCM

Trường Đại học Binghamton

Đại học

Kỹ thuật điện

29

Trường Đại học Quốc tế – ĐHQGHCM

Trường Đại học Rutgers

Đại học

Kỹ thuật điện tử, truyền thông

30

Trường Đại học Quốc tế – ĐHQGHCM

Trường Đại học Rutgers

Đại học

Kỹ thuật máy tính

31

Trường Đại học Quốc tế – ĐHQGHCM

Trường Đại học Houston

Đại học

Quản trị kinh doanh

32

Trường Đại học Quốc tế – ĐHQGHCM

Trường Đại học Northeastern

Thạc sĩ

Khoa học về Lãnh đạo

33

Trường Đại học Quốc tế – ĐHQGHCM

Trường Đại học Hawaii

Thạc sĩ

Quản trị kinh doanh

34

Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng

Trường Đại học Northern Colorado

Thạc sĩ

Khoa học Điều dưỡng

35

Trường Đại học Sư phạm – ĐHH

Trường Đại học Winona State

Đại học

Khoa học máy tính

36

Trường Đại học Tài chính – Marketing

Trường Đại học Saint Francis

Thạc sĩ

Quản trị kinh doanh

37

Viện Đào tạo quốc tế – Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

Trường Đại học Troy

Đại học

Quản trị kinh doanh

Khoa học máy tính

38

Viện Đào tạo quốc tế – ĐHQGHCM

Trường Đại học Truman State

Đại học

Khoa học máy tính

39

Viện Đào tạo quốc tế – ĐHQGHCM

Trường Đại học Andrews

Thạc sĩ

Quản trị kinh doanh

40

Viện Đào tạo quốc tế – ĐHQGHCM

Trường Đại học Truman State

Thạc sĩ

Kế toán

41

Viện Đào tạo quốc tế – ĐHQGHCM

Trường Đại học Truman State

Đại học

Quản trị kinh doanh

42

Viện Đào tạo quốc tế – ĐHQGHCM

Trường Đại học Missoury – St.Louis

Đại học

Công nghệ thông tin

43

Viện Đào tạo quốc tế – ĐHQGHCM

Trường Đại học Missoury – St.Louis

Đại học

Quản trị kinh doanh

Hệ thống Các trường đại học đào tạo từ xa, online, trực tuyến ở Việt nam

Hiện nay, nhiều trường đại học tại Việt Nam cung cấp các chương trình đào tạo đại học trực tuyến, từ xa và kết hợp, đáp ứng nhu cầu học tập linh hoạt của sinh viên. Dưới đây là danh sách 20 trường đại học tiêu biểu:Hiện nay, nhiều trường đại học tại Việt Nam cung cấp chương trình đào tạo đại học từ xa, phù hợp cho những người muốn học tập linh hoạt về thời gian và địa điểm. Dưới đây là một số trường đại học uy tín với các chương trình đào tạo từ xa:

Đại học Kinh tế Quốc dân: Cung cấp các chương trình đào tạo từ xa với nhiều ngành học đa dạng.

Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông: Đào tạo từ xa các ngành như Công nghệ Thông tin, Quản trị Kinh doanh.

Đại học Mở Hà Nội: Cung cấp chương trình đào tạo từ xa với nhiều ngành học phong phú.

Học viện Tài chính: Đào tạo từ xa các ngành Kế toán, Quản trị Kinh doanh.

Đại học Công nghệ Thông tin – Đại học Quốc gia TP.HCM: Cung cấp chương trình đào tạo từ xa qua mạng (e-learning). E-WARNING

Học online mọi kỹ năng từ chuyên gia hàng đầu.Một khóa học trực tuyến là gì?.Khóa học trực tuyến là một loại hình học tập diễn ra qua internet. Nó có thể được thực hiện theo nhịp độ riêng hoặc theo nhóm.Lợi ích lớn nhất của các khóa học trực tuyến này là bạn có thể học theo tốc độ của riêng mình ở bất kỳ đâu trên thế giới.

Đại học Thái Nguyên: Đào tạo từ xa nhiều ngành học khác nhau.

Đại học Huế: Cung cấp chương trình đào tạo từ xa với nhiều ngành học.

Đại học Đà Nẵng: Đào tạo từ xa các ngành học đa dạng.

Đại học Cần Thơ: Cung cấp chương trình đào tạo từ xa phù hợp với nhu cầu người học.

Đại học Hà Nội: Đào tạo từ xa các ngành Ngôn ngữ Anh, Ngôn ngữ Nhật, Ngôn ngữ Trung.

Đại học Công nghệ TP.HCM (HUTECH): Cung cấp chương trình đào tạo từ xa với nhiều ngành học.

Đại học Tài chính – Marketing: Đào tạo từ xa các ngành Quản trị Kinh doanh, Tài chính – Ngân hàng. DAOTAOTUXA

Đại học Mở TP.HCM: Cung cấp chương trình đào tạo từ xa và vừa làm vừa học với nhiều chuyên ngành. OUDE UNIVERSITY

Đại học Vinh: Đào tạo từ xa các ngành học đa dạng.

Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia TP.HCM: Cung cấp hệ đào tạo từ xa qua mạng với các ngành khoa học. E-LEARNING

Đại học Duy Tân: Đào tạo từ xa các ngành học phù hợp với nhu cầu thị trường.

Đại học Bình Dương: Cung cấp chương trình đào tạo từ xa với nhiều ngành học.

Đại học Ngoại Thương: Đào tạo từ xa các ngành kinh tế và thương mại.

Đại học Trà Vinh: Cung cấp chương trình đào tạo từ xa với nhiều ngành học.

Đại học Công nghiệp Hà Nội: Đào tạo từ xa các ngành kỹ thuật và công nghệ.

Những trường đại học này cung cấp các chương trình đào tạo linh hoạt, giúp sinh viên có thể học tập từ xa hoặc kết hợp giữa học trực tuyến và học tại chỗ, phù hợp với nhu cầu và điều kiện cá nhân

Đăng ký học Ngành THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ thời công nghệ

Thương mại điện tử hay còn được biết đến với tên tiếng Anh là E – Commerce (Electronic Commerce), ý chỉ việc mua và bán hàng hóa/ dịch vụ hoặc chuyển tiền/ dữ liệu qua một mạng điện tử, chủ yếu là Internet. Các giao dịch kinh doanh này xảy ra dưới dạng doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B – Business to Business), doanh nghiệp với người tiêu dùng (B2C – Business to Consumer), người tiêu dùng với người tiêu dùng hoặc người tiêu dùng với doanh nghiệp.

Trong hai thập kỷ qua, việc sử dụng rộng rãi các nền tảng thương mại điện tử như Shopee, Lazada hay Tiki đã góp phần vào sự tăng trưởng đáng kể trong lĩnh vực bán lẻ trực tuyến. Dự kiến trong năm 2022, quy mô thị trường thương mại điện tử bán lẻ Việt Nam sẽ đạt 16,4 tỷ USD, khoảng 60% dân số tham gia mua sắm (theo Sách trắng thương mại điện tử Việt Nam 2022 do Cục thương mại điện tử và Kinh tế số công bố).>> * Nhóm ngành BÁO CHÍ VÀ TRUYỀN THÔNG

So với thực trạng trên thế giới, Việt Nam có mức tăng trưởng thương mại điện tử khá mạnh, trở thành thị trường lớn thứ hai trong khu vực Đông Nam Á, sau Indonesia (theo dữ liệu Metric.vn). Cũng theo đó, bốn sàn thương mại điện tử có thị phần lớn nhất tại Việt Nam lần lượt: Shopee, Lazada, Tiki và Sendo.Thương mại điện tử là gì?

Cách thương mại điện tử hoạt động.Khách hàng truy cập vào một cửa hàng trực tuyến để tìm kiếm, tham khảo, chọn lựa và đặt hàng cho các sản phẩm/ dịch vụ thông qua thiết bị số của riêng họ như smartphone, tablet, laptop…

Khi khách hàng đặt hàng thành công, trình duyệt web của họ sẽ giao tiếp qua lại với máy chủ. Dữ liệu liên quan được chuyển tiếp đến một máy tính trung tâm được gọi là Người quản lý đơn đặt hàng. Sau đó, nó sẽ được chuyển tiếp đến cơ sở dữ liệu quản lý mức tồn kho. Hệ thống người bán quản lý thông tin thanh toán, sử dụng các ứng dụng như PayPal, Momo… Cuối cùng, nó sẽ quay trở lại người quản lý đơn hàng. Điều này nhằm đảm bảo rằng lượng hàng tồn kho trong cửa hàng và tiền của khách hàng có đủ để xử lý đơn đặt hàng.

Sau khi đơn hàng được xác thực, nhân viên quản lý đơn hàng sẽ thông báo đến máy chủ web của cửa hàng. Nó sẽ hiển thị thông báo cho khách hàng rằng đơn hàng của họ đã được xử lý thành công. Người quản lý đơn hàng sau đó sẽ gửi dữ liệu đơn hàng đến kho hoặc bộ phận thực hiện, cho họ biết sản phẩm/ dịch vụ có thể được gửi đến khách hàng. Tại thời điểm này, các sản phẩm hữu hình hoặc kỹ thuật số có thể được chuyển đến khách hàng hoặc quyền truy cập vào một dịch vụ có thể được cấp.

Các nền tảng lưu trữ giao dịch thương mại điện tử bao gồm thị trường trực tuyến mà người bán đăng ký, chẳng hạn như Shopee; phần mềm như một dịch vụ (SaaS) công cụ cho phép khách hàng “thuê” cơ sở hạ tầng cửa hàng trực tuyến; hoặc các công cụ mã nguồn mở mà các công ty quản lý bằng cách sử dụng các nhà phát triển nội bộ.

Phân loại thương mại điện tử >>> Nhóm ngành MÁY TÍNH, nhóm ngành CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

Thương mại điện tử giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B – Business to Business) đề cập đến việc trao đổi điện tử các sản phẩm, dịch vụ hoặc thông tin giữa các doanh nghiệp chứ không phải giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng. Ví dụ như các thư mục trực tuyến và các website trao đổi sản phẩm, nguồn cung ứng cho phép các doanh nghiệp tìm kiếm sản phẩm, dịch vụ và thông tin cũng như bắt đầu giao dịch thông qua giao diện mua sắm điện tử.

Doanh nghiệp với người tiêu dùng (B2C – Business to Consumer) là một phần bán lẻ của thương mại điện tử trên Internet. Đó là khi doanh nghiệp bán sản phẩm/ dịch vụ hoặc thông tin trực tiếp cho người tiêu dùng. Ngày nay, có vô số cửa hàng và trung tâm thương mại ảo trên Internet bán tất cả các loại hàng tiêu dùng. Amazon là ví dụ được công nhận nhiều nhất về các website thương mại điện tử và nó dường như thống trị thị trường B2C.

Người tiêu dùng với người tiêu dùng (C2C – Consumer to Consumer) là một loại hình thương mại điện tử, trong đó, người tiêu dùng trao đổi sản phẩm/ dịch vụ và thông tin với nhau trực tuyến. Các giao dịch này thường được thực hiện thông qua một bên thứ ba cung cấp nền tảng trực tuyến để thực hiện các giao dịch.

Người tiêu dùng với doanh nghiệp (C2B – Consumer to Business) là một loại hình thương mại điện tử trong đó người tiêu dùng cung cấp sản phẩm/ dịch vụ của họ trực tuyến để các công ty đặt giá thầu và mua hàng. Điều này ngược lại với mô hình thương mại truyền thống của B2C. Ví dụ phổ biến về nền tảng C2B là thị trường bán hình ảnh, ảnh chụp hay thiết kế miễn phí bản quyền, có thể kể đến iStock.

Doanh nghiệp với cơ quan quản lý (B2A – Business to Administration) đề cập đến các giao dịch được thực hiện trực tuyến giữa các công ty và cơ quan hành chính công hoặc cơ quan chính phủ. Nhiều nhánh của chính phủ phụ thuộc vào nhiều loại sản phẩm hoặc dịch vụ điện tử khác nhau. Các sản phẩm/ dịch vụ này thường liên quan đến các tài liệu pháp lý, sổ đăng ký, an sinh xã hội, dữ liệu tài chính và việc làm. Các doanh nghiệp có thể cung cấp những thứ này dưới dạng điện tử. Các dịch vụ B2A đã phát triển đáng kể trong những năm gần đây khi đầu tư vào các khả năng của chính phủ điện tử.

Người tiêu dùng với cơ quan quản lý (C2A – Consumer to Administration) đề cập đến các giao dịch được thực hiện trực tuyến giữa người tiêu dùng và cơ quan hành chính công hoặc cơ quan chính phủ. Chính phủ hiếm khi mua các sản phẩm/ dịch vụ từ các cá nhân, nhưng các cá nhân lại thường xuyên sử dụng phương tiện điện tử trong những lĩnh vực sau:

An sinh xã hội: phân phối thông tin và thanh toán.Thuế: khai thuế và thanh toán.Sức khỏe: đặt hẹn, cung cấp kết quả xét nghiệm và thông tin về tình trạng sức khỏe, thanh toán các dịch vụ y tế.

Thương mại điện tử di động (m – commerce) đề cập đến các giao dịch bán hàng trực tuyến sử dụng thiết bị di động chẳng hạn như điện thoại thông minh và máy tính bảng. Nó bao gồm mua sắm di động, banking và thanh toán. Ví dụ về thương mại điện tử bao gồm mua hàng trong ứng dụng (ví dụ: Amazon, Shopee, Taobao…), các ứng dụng thị trường mobile banking (ví dụ: MoMo, Apple Pay, Samsung Pay,…).  >>>>Danh sách các nhóm ngành đào tạo trình độ đại học

Ưu nhược điểm của thương mại điện tử Các lợi ích của thương mại điện tử bao gồm tính khả dụng 24/24, tốc độ truy cập nhanh, hàng hóa/ dịch vụ đa dạng sẵn có, khả năng tiếp cận dễ dàng và phạm vi tiếp cận mở rộng đến quốc tế.Ưu điểm của thương mại điện tử có thể kể đến:

Tính khả dụng: ngoài việc ngừng hoạt động và bảo trì theo lịch trình, các trang thương mại điện tử luôn hoạt động 24/7, cho phép khách hàng truy cập và mua sắm bất cứ lúc nào. Trong khi đó, các cửa hàng mua bán trực tiếp có thể đóng cửa ở một số giờ hoặc một số ngày nhất định.

Tốc độ truy cập: mặc dù người mua sắm trong một cửa hàng thực có thể bị chậm lại bởi đám đông, nhưng các website thương mại điện tử lại không như thế. Các trang sản phẩm và giỏ hàng sẽ tải chỉ trong vài giây hoặc có thể ít hơn. Một giao dịch thương mại điện tử bao gồm một vài cú nhấp chuột và mất chưa đầy năm phút.

Khả năng tiếp cận: tất cả những gì khách hàng cần là một thiết bị số và mạng Internet, sau đó với các nền tảng thương mại điện tử họ có thể tìm bất cứ thứ gì họ cần và ở bất cứ đâu. Tương tự, sản phẩm/ dịch vụ từ các nhà bán hàng có thể được tìm và đặt mua bởi mọi người trên toàn thế giới.

Tối ưu chi phí: các doanh nghiệp thương mại điện tử thuần túy có thể giảm được các chi phí như tiền thuê mặt bằng, tiền cơ sở vật chất, hàng tồn kho và nhân viên…

Cá nhân hóa và đề xuất sản phẩm: các trang thương mại điện tử có thể theo dõi lịch sử xem, tìm kiếm và mua hàng của khách hàng. Họ có thể sử dụng dữ liệu này để đề xuất sản phẩm phù hợp với các tiêu chí khách hàng cần và có được thông tin chi tiết về thị trường mục tiêu. Một ví dụ cho trường hợp này chính là các đề xuất thường gặp trên Shopee như Gợi ý hôm nay hay Có thể bạn cũng thích…

Những nhược điểm được nhận thấy của thương mại điện tử bao gồm dịch vụ khách hàng đôi khi bị hạn chế, người tiêu dùng không thể chạm vào hoặc dùng thử sản phẩm trước khi mua và phải tốn thời gian chờ đợi sản phẩm được vận chuyển đến. Cụ thể:

Dịch vụ khách hàng hạn chế: nếu khách hàng có thắc mắc hoặc gặp vấn đề tại cửa hàng, họ có thể liên hệ nhân viên hoặc quản lý để giải quyết ngay lập tức. Thế nhưng trong thương mại điện tử, các website chỉ có thể hỗ trợ trong những giờ nhất định.

Trải nghiệm sản phẩm bị hạn chế: Xem hình ảnh trên website có thể mang lại cảm nhận tốt về sản phẩm, nhưng nó khác với việc trực tiếp trải nghiệm sản phẩm. Tương tự thế, họ không thể sử dụng thử hay chạm vào sản phẩm, điều đó dễ khiến họ thất vọng nếu sản phẩm không như mong đợi hoặc một số trường hợp còn khác xa so với hình ảnh được quảng bá trước đó.

Thời gian chờ đợi: Khi mua trực tiếp, khách hàng có thể sở hữu sản phẩm ngay lập tức. Nhưng với thương mại điện tử, họ phải chờ đợi một khoảng thời gian để nhận được sản phẩm. Tuy nhiên, những năm gần đây các sàn thương mại điện tử đã dần cải tiến thời gian vận chuyển, với một số sản phẩm gần với địa chỉ khách hàng, họ có thể nhận ngay trong 30 phút.

Tính bảo mật: Các tin tặc tay nghề cao có thể đánh cắp thông tin mua hàng và giả mạo người giao để nhận tiền, sau đó gửi khách hàng những sản phẩm không chất lượng. Các trang thương mại điện tử hợp pháp cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro, đặc biệt khi khách hàng lưu trữ thông tin thẻ tín dụng của họ để mua hàng dễ dàng hơn.

Ưu nhược điểm Thương mại điện tử.Ngành thương mại điện tử phù hợp với ai?

Nhiều bạn trẻ đã bắt đầu định hướng cho bản thân những ngành nghề phù hợp để theo học trong tương lai ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Bất kỳ công việc nào cũng sẽ đòi hỏi những tố chất phù hợp và thương mại điện tử cũng không ngoại lệ. Cùng điểm qua các yếu tố cần thiết nếu bạn muốn bắt đầu với ngành này nhé!

Yếu tố cần thiết để học Thương mại điện tử.Có mục tiêu kinh doanh và yêu thích công nghệ

Thương mại điện tử thuộc khối ngành kinh tế nên rất phù hợp với những bạn có “máu” kinh doanh, đam mê kiếm tiền bằng cách khởi nghiệp. Điểm chung của các bạn mê kinh doanh chính là luôn nhạy cảm với xu hướng hiện đại, không ngừng tìm hiểu và nắm bắt insight (sự thật ngầm hiểu) lẫn nhu cầu của khách hàng để kịp thời đáp ứng được xu thế thị trường. Con đường kinh doanh không chưa bao giờ là dễ dàng, nhưng họ không ngại đứng lên từ những lần thất bại và xem đó là kinh nghiệm để phát triển công việc tốt hơn.

Đặc tính của thương mại điện tử là kinh doanh trực tuyến kết hợp với công nghệ thông tin, Internet để thực hiện giao dịch buôn bán, thanh toán online. Vậy nên, những người học cũng cần có sự hứng thú nhất định với Công nghệ thông tin để theo đuổi ngành thương mại điện tử thời thượng.Tư duy nhạy bén cùng khả năng ngoại ngữ tốt

Tư duy nhạy bén cùng khả năng ngoại ngữ tốt cũng là những tố chất mà một người học thương mại điện tử cần có. Bởi ngành này không giới hạn phạm vi không gian vì kinh doanh trên Internet, khách hàng của bạn có thể đến từ bất kỳ quốc gia nào. Việc thành thạo tiếng Anh – ngôn ngữ chung trên toàn thế giới sẽ giúp bạn có thêm cơ hội tìm kiếm được lượng khách tiềm năng mới, đồng thời hiểu thêm về sở thích, nhu cầu, xu hướng của khách hàng ở nhiều quốc gia khác nhau.

Trong thời đại công nghệ 4.0 hiện nay, nơi mà mọi thứ trên Internet thay đổi theo từng ngày, các website và những kênh social như Facebook, Tiktok, Instagram cập nhật liên tục thì người học thương mại điện tử cần phải sở hữu tư duy nhạy bén. Tố chất này sẽ giúp cho người học nhạy cảm với thời thế để bắt kịp xu hướng, không bị bỏ lại trong cuộc đua sáng tạo đổi mới, tạo được ưu thế cạnh tranh so với đối thủ đồng thời thu hút được khách hàng.Kỹ  năng giao tiếp tốt

Kỹ năng giao tiếp là một trong những kỹ năng thiết yếu để đạt đến sự thành công trong kinh doanh ở mọi lĩnh vực, không riêng gì thương mại điện tử. Sở hữu kỹ năng giao tiếp tốt sẽ giúp người làm trong lĩnh vực thương mại điện tử dễ dàng thu hút và giữ chân các khách hàng tiềm năng, nhạy bén nắm bắt tâm lý, hiểu được những gì người tiêu dùng mong muốn, từ đó đưa ra các phương hướng kinh doanh hiệu quả nhất.

Đăng ký thi Năng Lực Đại học Sư phạm TP.HCM đổi cấu trúc đề minh họa

Dưới đây là đề tham khảo các môn kỳ thi đánh giá năng lực Đại học Sư phạm TP. HCM (HCMUE) :=5/6 môn thi đánh giá năng lực của Đại học Sư phạm TP.HCM sẽ được thay đổi cấu trúc từ năm 2025.Năm 2025, trường Đại học Sư phạm TP.HCM dự kiến tổ chức nhiều đợt thi đánh giá năng lực tại TP.HCM, Long An, Đà Nẵng, Gia Lai. Kỳ thi gồm 6 bài thi độc lập: Toán học, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Ngữ văn, tiếng Anh.

Trong đó, đề thi Toán, Vật lý, Hóa học, Sinh học gồm 40 câu, chia thành 3 phần, thay vì 50 câu với 2 phần như trước đây.

Toán học Ngữ văn Tiếng Anh
Vật lý Hoá học Sinh học

Với môn Ngữ văn, đề gồm 22 câu ở 2 phần: đọc hiểu (trắc nghiệm); viết đoạn văn ngắn; bài luận. Phần viết đoạn văn ngắn là nội dung mới so với đề các năm trước.

Với môn tiếng Anh, cấu trúc đề thi giữ nguyên, gồm 4 phần nghe, nói, đọc, viết. Ngữ liệu được lấy trong nhiều lĩnh vực khác nhau, giữ hướng tiếp cận theo định dạng bài thi đánh giá năng lực từ bậc 3 đến bậc 5 (theo khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam).

Theo Đại học Sư phạm TP. HCM (HCMUE) nội dung đề bám sát chương trình giáo dục phổ thông 2018, trong đó phần kiến thức lớp 12 chiếm khoảng 70-80%, còn lại là kiến thức lớp 10, 11. Thí sinh làm bài trên máy tính, thời gian 90 phút/môn.

Kết quả kỳ thi này được trường sử dụng để tuyển 40-50% chỉ tiêu đầu vào. Số chỉ tiêu còn lại, trường dành xét điểm thi tốt nghiệp THPT 2025, ưu tiên xét tuyển học sinh chuyên và tuyển thẳng (giải quốc gia, quốc tế).

Kỳ thi đánh giá năng lực của Đại học Sư phạm TP. HCM (HCMUE) được tổ chức lần đầu n

DGNL Cau truc bai thi

ăm 2022 với khoảng 2.000 lượt thí sinh. Đến năm nay, con số này tăng lên hơn 8.000 lượt.

Kết quả kỳ thi được nhiều trường đại học khối ngành sư phạm dùng xét tuyển đầu vào, gồm: Sư phạm Hà Nội, Sư phạm Hà Nội 2, các trường sư phạm trực thuộc Đại học Thái Nguyên, Đại học Huế, Đại học Đà Nẵng và Đại học Vinh.

Kỳ thi đánh giá năng lực chuyên biệt phục vụ tuyển sinh đại học đã được Trường Đại học Sư phạm TP.HCM triển khai từ năm 2022. Nhiều trường đã nghiên cứu sử dụng kết quả của kỳ thi vào việc xét tuyển. Đặc biệt trong năm 2024, sau năm ngày mở cổng đăng ký thì tỷ lệ thí sinh đăng kí ở điểm thi TP.HCM và Long An đạt trên 80%. Tổng số lượt thí sinh tham gia cả 05 đợt của năm 2024 đạt 8540.
Kỳ thi Đánh giá năng lực chuyên biệt từ năm 2025 của Trường sẽ có nhiều điểm cải tiến trong cấu trúc đề thi của các môn, cụ thể như sau:
Các môn Toán, Vật lí, Hóa học, Sinh học bao gồm 40 câu hỏi chia làm 03 phần như sau: Phần 1: 25 câu hỏi thi trắc nghiệm khách quan; phần 2: 05 câu hỏi thi trắc nghiệm khách quan khai thác dữ liệu tổng hợp và phần 3: 10 câu hỏi điền đáp số.
Môn Ngữ văn sẽ gồm 22 câu hỏi và chia thành 03 phần: Phần 1: Đọc hiểu với 20 câu hỏi thi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn; phần 2: Viết đoạn văn ngắn với 01 câu hỏi tự luận và Phần 3: Viết bài luận với 01 câu hỏi tự luận.
Với môn Tiếng Anh, cấu trúc đề thi vẫn giữ nguyên cấu trúc đề thi các năm vừa qua, hướng tiếp cận theo định dạng bài thi đánh giá năng lực từ bậc 3 đến bậc 5 theo khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam. Ngữ liệu trong đề thi đa dạng, được lấy trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
Thời gian làm bài thi của môn Toán, Vật lí, Hóa học, Sinh học, Ngữ văn là 90 phút và Tiếng Anh là 180 phút. Thí sinh đọc và làm bài thi trên máy tính.
Đề minh họa được thiết kế phục vụ đối tượng dự thi là học sinh theo học chương trình trung học phổ thông hiện hành, tham dự các đợt thi tổ chức từ năm 2025, trong đó phần nội dung kiến thức của chương trình lớp 12 chiếm 70-80%, còn lại là nội dung kiến thức của chương trình lớp 10 và 11.
Từ năm 2025, để mở rộng quy mô tổ chức Kỳ thi phục vụ cho công tác tuyển sinh của Trường và các trường đại học khác, Kỳ thi dự kiến sẽ tổ chức thi tại các địa điểm gồm TP.HCM, Long An, Gia Lai, Đà Nẵng và tiếp tục mở rộng số các cơ sở giáo dục đại học có sử dụng kết quả.

KIM NHUNG https://vtcnews.vn/dai-hoc-su-pham-tp-hcm-doi-cau-truc-de-minh-hoa-thi-danh-gia-nang-luc-2025-ar912441.html

Đăng ký học một QUẢN TRỊ SẢN XUẤT (Production Manager)

(Dangkytuyensinh.Edu.vn) – Khi các bạn sinh viên đang ngồi trên ghế nhà trường, hoặc các bạn có cơ duyên muốn làm trong ngành sản xuất với vị trí quản lý hoặc một nhân viên bình thường mà chưa biết công việc cụ thể thế nào? Mục chọn nghề của huongnghiep.com.vn sẻ cho các bạn biết được điều này và nhiều ngành nghề khác đang tồn tại trong xã hội Việt Nam và thế giới.

Giới thiệu chung Quản Lý Sản Xuất (Production Manager), Trợ lý Quản lý Sản xuất/Assistant Production Manager ()

Một công ty tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ, tất cả đều phải trải qua khâu sản xuất. Nhà quản trị sản xuất phải quản lý dây chuyền đó. Tức là quản lý bằng cách sử dụng các yếu tố đầu vào là nguyên vật liệu thô, con người, máy móc, nhà xưởng, kỹ thuật công nghệ, tiền mặt và các nguồn tài nguyên khác để chuyển đổi nó thành sản phẩm hoặc dịch vụ. Trong đó, có kể đến việc quản lý về mặt hoạch định, tổ chức, kiểm soát, lãnh đạo, động viên và phối hợp.>>>>Nhóm ngành đào tạo QUẢN LÝ & QUẢN TRỊ

Chân dung nhà QUẢN TRỊ SẢN XUẤT (Production Manager)

Công việc của Nhà quản trị sản xuất,Trợ lý Quản lý Sản xuất/Assistant Production Manager ()Nhà quản trị sản xuất có thể được tuyển dụng bởi các vị trí về quản lý, quản đốc, tổ trưởng sản xuất trong Doanh nghiệp phụ trách nhiều hoặc rất nhiều những công việc sau:>>>Nhóm ngành đào tạo QUẢN LÝ CÔNG NGHIỆP

Lập kế hoạch sản xuất, kế hoạch điều phối nguyên liệu,Theo dõi tiến độ sản xuất, quản lý chất lượng sản phẩm, kỳ hạn xuất hàng,Chỉ thị, đào tạo công nhân đạt kết quả sản xuất,Giải quyết, hỗ trợ các vấn đề phát sinh trong quá trình sản xuất,

Đề ra các phương án, cải tiến kỹ thuật,Duy trì tiến độ sản xuất để đáp ứng nhu cầu đơn đặt hàng của khách hàng,

– Phối hợp với bộ phận QA và QC duy trì tiêu chuẩn chất lượng- Đảm bảo dây chuyền sản xuất vận hành trơn tru và hiệu quả bằng cách điều phối việc cung cấp các bộ phận đang làm việc và giải quyết các vấn đề khi chúng xuất hiện trên dây chuyền lắp ráp >> Nhóm ngành KINH DOANH

– Đảm bảo các công cụ và máy móc dây chuyền được bảo trì tốt- Tổ chức các cuộc họp để tạo điều kiện giao tiếp giữa các phân xưởng (Đúc phun, Sơn, Lắp ráp, In, Đóng gói, May, v.v.)Giám sát tất cả các thông số sản xuất của các thiết bị, ghi nhận và kết hợp với các bộ,phận nhằm khắc phục các sự cố sản xuất,…

Môi trường công việc Chịu nhiều áp lực trước Hội động quản trị hoặc Chủ doanh nghiệp về hiệu quả các hoạt động do mình quản lý. Thường xuyên có mặt ở nhà máy, phân xưởng, tiếp xúc với các thiết bị công nghệ phục vụ cho chuyên ngành. Một môi trường công việc hoàn hảo và chuyên nghiệp được tạo ra cho tất cả những ai có tầm nhìn và đầu óc chiến lượt.

Những tố chất cần thiết Sức khỏe tốt, nhanh nhẹn, nhiệt tình,Có khả năng làm việc độc lập, chịu được áp lực cao trong công việc,

Có khả năng phối hợp làm việc nhóm hiệu quả,Có đạo đức tốt, ham học hỏi & tinh thần trách nhiệm cao trong công việc.Có kinh nghiệm quản lý sản xuất, học đúng chuyên ngành là một lợi thế

PRODUCTION MANAGER/QUẢN LÝ SẢN XUẤT Có khả năng lãnh đạo và tuyển dụng,…

Triển vọng nghề nghiệp Việt Nam là nước đang phát triển mạnh, là nơi mà các doanh nghiệp sản xuất trên thế giới muốn đầu tư vào, vì thế nhu cầu tuyển dụng cho ngành này khá cao. Sinh viên tốt nghiệp ra trường có nhiều cơ hội nhận vào làm việc ở các công ty sản xuất nằm trong các khu công nghiệp thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau.

Ngoài việc đảm bảo đầy đủ chế độ theo qui định nhà nước, các nhà quản trị sản xuất tương lai trong nhiều công ty sản xuất còn được hưởng thêm về các khoản về doanh thu,phụ cấp và các chế độ đặc biệt của từng loại hình công ty. Mặt khác, công việc trên hứa hẹn một công việc ổn định lâu dài.

Mục tiêu chính của Nhà quản trị sản xuất.Giám sát dây chuyền sản xuất, dịch vụ (lực lượng và công cụ sản xuất).Bảo đảm an toàn trong sản xuất và cải tiến thiết bị kỹ thuật.

Đại học Luật Hà Nội University (HLU)

Tên trường: Đại học Luật Hà Nội

Tên tiếng Anh: Hanoi Law University (HLU)

Mã trường: LPH

Loại trường: Công lập

Hệ đào tạo: Đại học – Sau đại học – Văn bằng 2 – Tại chức – Liên thông – Quốc tế

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO CỦA MỘT SỐ NGHỀ TRÌNH ĐỘ SƠ CẤP

Danh mục ngành, nghề đào tạo cấp IV trình độ Sơ trung cấp chính quy

Danh mục ngành, nghề đào tạo cấp IV trình độ trung cấp chính quy

Danh mục ngành, nghề đào tạo cấp IV trình độ cao đẳng chính quy

Danh sách các nhóm ngành đào tạo trình độ đại học

Danh sách các ngành nghề đào tạo cấp IV trình độ Đại học

Danh mục giáo dục đào tạo cấp IV trình độ Thạc sĩ (Cao học)

Danh mục giáo dục đào tạo cấp IV trình độ Tiến sĩ (Tiến sĩ khoa học)

Địa chỉ: 87 Nguyễn Chí Thanh, Quận Đống Đa, Hà Nội

Điện thoại: 024.38352630 – Fax: 024.38343226

Phòng ĐTĐH: 0243.835.9803 Phòng ĐTSĐH: 0243.835.2354

Email: admin@hlu.edu.vn

Website: http://hlu.edu.vn/

Facebook: www.facebook.com/daihocluathanoi

Chiến lược phát triển Trường Đại học Luật Hà Nội đến năm 2030 đã được Hội đồng trường Trường Đại học Luật Hà Nội ban hành kèm theo Nghị quyết số 3778/NQ-HĐTĐHLHN ngày 23 tháng 10 năm 2020 của Hội đồng trường Trường Đại học Luật Hà Nội.

Đào tạo và đảm bảo chất lượng đào tạo Đại học Luật Hà Nội Hanoi Law University (HLU) Nghiên cứu khoa học

Về phổ biến, giáo dục pháp luật và phục vụ cộng đồng Đại học Luật Hà Nội Hanoi Law University (HLU) Về tổ chức bộ máy và đội ngũ nhân sự

Về hợp tác quốc tế Đại học Luật Hà Nội Hanoi Law University (HLU) Về nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất

–  Về công nghệ thông tin Đại học Luật Hà Nội Hanoi Law University (HLU) Chiến lược xác định mục tiêu tổng quát: “Phấn đấu đến năm 2030, phát triển Trường Đại học Luật Hà Nội trở thành cơ sở giáo dục đại học định hướng nghiên cứu, trường trọng điểm quốc gia về đào tạo pháp luật có vị thế trong khu vực; trung tâm nghiên cứu khoa học pháp lý uy tín hàng đầu, có vai trò dẫn dắt trong các lĩnh vực khoa học pháp lý, tham gia xây dựng và hoạch định chính sách, pháp luật; trung tâm truyền bá tư tưởng pháp lý, đóng góp tích cực trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật và phục vụ cộng đồng.”

Chiến lược xác định quan điểm phát triển gồm có: Đại học Luật Hà Nội Hanoi Law University (HLU) >>>Đại học Luật Hà Nội (cơ sở Đắk Lắk)

 Tập trung nâng cao chất lượng song song với phát triển quy mô: không ngừng nâng cao chất lượng các chương trình đào tạo cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ; xây dựng các chương trình đào tạo đạt chuẩn kiểm định chất lượng trong nước và khu vực; tăng cường đào tạo tư duy pháp lý và kiến thức thực tiễn cho người học, bảo đảm người học tốt nghiệp đáp ứng được ngay yêu cầu của công việc; hỗ trợ tối đa cơ hội việc làm cho người học sau khi tốt nghiệp; đầu tư xây dựng và thu hút đội ngũ giảng viên có chất lượng vượt trội, đặc biệt là đội ngũ các nhà khoa học đầu ngành, chú trọng đầu tư nâng cao trình độ của giảng viên trẻ; >>>>Đại học Luật Hà Nội (cơ sở Bắc Ninh)

Tăng cường đầu tư nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng gắn với nhiệm vụ giảng dạy, xây dựng và thực hiện pháp luật, cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; xây dựng Trường thành cơ sở giáo dục đại học định hướng nghiên cứu, có năng lực hàng đầu về nghiên cứu khoa học pháp lý, phản biện, đánh giá pháp luật; tăng cường năng lực nghiên cứu của giảng viên, từng bước xây dựng đội ngũ những chuyên gia đầu ngành, hình thành trường phái học thuật.

 Đẩy mạnh truyền bá tư tưởng pháp lý thông qua hoạt động đào tạo, nghiên cứu, chuyển giao sác sản phẩm khoa học pháp lý chất lượng cao, kết hợp với hoạt động giáo dục, phổ biến pháp luật và hỗ trợ pháp lý cho cộng đồng. Coi hoạt động phục vụ cộng đồng là một trong ba trụ cột hoạt động của Trường với mục đích vừa truyền bá, nâng cao ý thức pháp luật trong xã hội, vừa góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ pháp luật, bảo đảm thượng tôn pháp luật trong đời sống kinh tế – xã hội.Trên cơ sở đó, Chiến lược xác định các mục tiêu cụ thể, các nhiệm vụ, giải pháp triển khai về các lĩnh vực:

 

 

Quy chế đăng ký học Chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế BGDĐT cấp phép

Hiện nay, các chứng chỉ tiếng Anh quốc tế đang ngày càng được phụ huynh và học sinh coi trọng. Tuy nhiên, có một thực tế rất nhiều em điểm IELTS rất cao nhưng điểm tiếng Anh trên lớp chỉ ở mức trung bình.

Theo Báo cáo thường niên Nay về dạy và học Ngoại ngữ tại Việt Nam, năm 2018 độ tuổi 16-18 chỉ chiếm 1,5% người thi IELTS; nhóm 19-22 chiếm 13%; nhóm trên 23 tuổi chiếm hơn 50%. Tuy nhiên sau 5 năm, năm Tới, những con số đã có sự biến đổi lớn. Cụ thể nhóm 16-18 tuổi đã tăng trên 20%; nhóm 19-22 tăng gấp đôi(>30%); nhóm trên 23 tuổi xu hướng giảm chỉ còn 25%.

Đây mới là con số thống kê ở lứa thấp nhất là 16 tuổi. Thực tế ở lứa tuổi tiểu học và THCS đang nở rộ phong trào học và thi IELTS. Nhiều phụ huynh cho rằng IELTS là cần thiết vì gần như xã hội đang có xu hướng “phổ cập hoá” chứng chỉ quốc tế. Bộ phận phụ huynh khác lại đau đầu vì con mình còn non nớt nhưng đã phải chạy đua với các bạn theo những chứng chỉ phù hợp với lứa tuổi THPT trở lên. Từ đó tạo nên sự hoang mang cho cả học sinh và phụ huynh giữa việc học IELTS hay học tiếng Anh trên trường học.

Còn độ vênh giữa học trên lớp và học thi chứng chỉ Thông tư số 02/2024/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế thi tốt nghiệp trung học phổ thông ban hành kèm theo Thông tư số 15/2020/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 5 năm 2020 được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 05/2021/TT-BGDĐT ngày 12 tháng 3 năm 2021 và Thông tư số 06/2023/TT-BGDĐT ngày 24 tháng 3 năm 2023 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Chủ tịch Hội đồng Trường Đại học Hà Nội, PGS.TS Phạm Ngọc Thạch

Chủ tịch Hội đồng Trường Đại học Hà Nội, PGS.TS Phạm Ngọc Thạch cho biết, thực tế hiện nay, có một số trường cấp tiểu học, THCS và THPT có sử dụng các chứng chỉ quốc tế để làm điều kiện xét tuyển. Ví dụ IELTS  được coi như một điểm để xác định trình độ tiếng Anh của học sinh.

Có thể ở cấp tiểu học, việc thi cử chưa cần thiết, nhưng ở cấp THPT vai trò của chứng chỉ như IELTS càng quan trọng hơn khi kết quả của chứng chỉ quốc tế này được sử dụng để xét tuyển vào đại học. Đặc biệt sau THPT vai trò của IELTS cũng rất cao khi người học phải ứng dụng vào làm việc.

Nếu nói phụ huynh có tâm lý coi nhẹ học tiếng Anh ở trường và coi trọng học thi chứng chỉ là không chính xác.

PGS.TS Phạm Ngọc Thạch, Chủ tịch Hội đồng Trường Đại học Hà Nội nhận định, trong một thời gian dài đã có sự vênh giữa việc học ở trường phổ thông với việc học thi các chứng chỉ. Đặc biệt từ sau khi có đề án ngoại ngữ quốc gia về việc thi tốt nghiệp THPT. Đề thi tốt nghiệp THPT hầu hết thi trên giấy, kỹ năng xoay quanh các bài đọc hiểu, ngữ pháp… Trong khi đó các chứng chỉ quốc tế đều thi 4 kỹ năng nghe – nói – đọc – viết.

Việc Bộ GD-ĐT không coi tiếng Anh là môn thi bắt buộc nữa, như vậy vẫn có một sự vênh nhất định ở đây. Nhìn rõ nhất là tâm lý học cho đủ điểm ở trường của học sinh. Một bộ phận giáo viên cho rằng việc học như này không phù hợp với hình thức thi, nên tạo điều kiện để học sinh ra ngoài học những điều cần thiết cho việc sử dụng ngoại ngữ.

Hiện nay, thực trạng này tạo độ vệnh lớn giữa việc dạy và học cũng như thi cử của học sinh với môn tiếng Anh. Tuy nhiên, khi những giáo viên có mong muốn giảng dạy chương trình tiếng Anh mới, họ mong muốn giảng dạy tăng cường các kỹ năng, nghe, nói đọc, viết, thời điểm đó sự khớp giữa hai bài thi vào trong THPT và bài thi quốc tế IELTS sẽ tốt hơn.

Nhiều phụ huynh đặt câu hỏi, công nhận tương đương giữa điểm thi tiếng Anh tốt nghiệp THPT và chứng chỉ IELTS như thế nào. Theo PGS.TS Phạm Ngọc Thạch, phụ huynh cần hiểu hai bài thi là khác nhau.>>> Chứng chỉ IELTS (International English Language Testing System)

Bài thi IELTS cả bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết và đạt được 4.0 không phải đơn giản. Trong khi đó bài thi tốt nghiệp THPT về cơ bản chỉ có kỹ năng như ngữ pháp hoặc là một số bài đọc hiểu,một số bài vận dụng. Vì vậy tương đương ở đây chỉ phù hợp cho tốt nghiệp THPT, không phải tương đương để lấy điểm vào các trường đại học.

Ví dụ như các trường chuyên ngữ, thí sinh đạt IELTS 4.0 không được xét vì không đủ tiêu chuẩn của trường. Ví dụ trường đại học Hà Nội, điểm IELTS thí sinh phải được 6.5 mới đạt ngưỡng tối thiểu để được xét. Điểm IELTS 4.0 sẽ không có giá trị cho việc xét tuyển vào các trường đại học.

Khi học ngoại ngữ với bất kỳ chứng chỉ nào như IELTS, TOFEL… chắc chắn có tác dụng. Hiện nay phụ huynh và học sinh hướng tới việc sử dụng ngoại ngữ chứ không đơn thuần là học để thi. Nhiều bậc phụ huynh có tâm lý ganh đua, muốn con mình cũng phải nói tiếng Anh cho bằng bạn bằng bè nên cho con học tiếng Anh sớm. Trước đây các kỳ thi trong nước chưa thực sự có giá trị cao, việc bám vào kỳ thi nào đó như IELTS cũng là hợp lý.>>> Chứng chỉ TOEIC (Test of English for International Communication)

Độ tuổi nào phù hợp để học IELTS Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế thi tốt nghiệp trung học phổ thông ban hành kèm theo Thông tư số 15/2020/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 5 năm 2020 được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 05/2021/TT-BGDĐT ngày 12 tháng 3 năm 2021 và Thông tư số 06/2023/TT-BGDĐT ngày 24 tháng 3 năm 2023 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo

Theo PGS.TS Phạm Ngọc Thạch, học tiếng Anh nói chung, có thể học từ tiểu học. Nhưng thời điểm đó, chỉ để chơi, làm quen với tiếng Anh, để tạo niềm vui cho trẻ. Từ lớp 1-5 học để thi IELTS là chưa cần thiết.>>> VSTEP (Vietnamese Standardized Test of English Proficiency) 

Những bài đọc hiểu của IELTS là dành cho những người trưởng thành chứ không phải cho trẻ em. Kiến thức xã hội, kiến thực tế của trẻ chưa đủ để chạy theo những yêu cầu của IELTS. Những kết quả các em thi có thể phản ánh đúng một phần, nhưng không loại trừ những yếu tố may mắn.

Chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế: Cần hiểu đúng học trúng –02-bgd-đầu ra

Học sinh THCS Thành Công, quận Ba Đình tại một buổi Talkshow (07 chứng chỉ tiếng anh có giá trị nhất hiện nay tại Việt Nam)

Công tác giám sát về chuyên môn, các trung tâm có một số quyền nhất định, miễn là không làm sai. Các trung tâm thành lập và đào tạo, giảng dạy theo đúng giấy phép đã được cấp, đây là quyền của các trung tâm này. Hệ thống chứng chỉ tiếng Anh của Cambridge ESOL

Tuy nhiên để đảm bảo chất lượng, việc giám sát của những cơ quan quản lý nhà nước, ví dụ như Sở GD-ĐT hoặc  Cục quản lý chất lượng, Bộ GD-ĐT. Cơ quan này thông qua những báo cáo, những chương trình, để có những chỉnh sửa nhất định từ cơ quan quản lý nhà nước. Hướng tới giải pháp làm sao để chương trình giảng dạy của nhà trường và chương trình giảng dạy của các trung tâm có thể tạo nền móng kiến thức cho học sinh.>>>Quy chế khẳng định vị thế chứng chỉ ngoại ngữ ‘nội’?

Hàng năm, trước các kỳ tuyển sinh, Hội đồng thi trường Đại học Hà Nội tổ chức họp và xác định những chứng chỉ quốc tế nào được công nhận và điểm tối thiểu phải là bao nhiêu. Ví dụ như IELTS lấy tối thiểu ở mức 6.5 mới tương đương với 10 điểm trường Đại học Hà Nội lấy ngoại ngữ nhân đôi nên mức 10 điểm này tương đương 5 điểm.

Để đảm bảo tính công bằng tối đa cho mỗi học sinh nộp chứng chỉ xét tuyển vào trường, trường Đại học Hà Nội thiết lập một hệ số nhân rõ ràng không chỉ cho tiếng Anh mà còn cho tất các các ngôn ngữ khác. Ai có thẩm quyền cấp văn bằng, chứng chỉ trong hệ thống giáo dục?

Có rất nhiều thí sinh nộp xét tuyển sớm, điểm IELTS rất cao, 7.5-8.0. Nhà trường đều tư vấn cho các em rằng nên học lại các kỳ thực hành tiếng từ đầu. Bởi chừng chỉ IETLS chỉ xác định tại thời điểm nhất định.Cử nhân tiếng Anh đại học chính quy

Thực tế các bạn sử dụng giao tiếp hàng ngày, thông qua các kỹ năng nghe – nói – đọc – viết – thuyết trình, lúc này thực tế học hàng ngày, giao tiếp với bạn bè, giảng viên thì lúc đó mới xây dựng vững chắc nền tảng cho sinh viên để học cao lên.PGS.TS Phạm Ngọc Thạch khẳng định, kiến thức nền, kiến thức cơ bản rất quan trọng với bất kỳ ai khi học ngoại ngữ.

Quy chế mở ngành đào tạo mở nghề Bộ Giáo dục và Đào tạo

Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết, qua rà soát, Bộ phát hiện lỗi kỹ thuật tại Thông tư số 16/2024/TT-BGDĐT ngày 20/11/2024 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 02/2022/TT-BGDĐT ngày 18/1/2022 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định điều kiện, trình tự, thủ tục mở ngành đào tạo, đình chỉ hoạt động của ngành đào tạo trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ.Mã ngành 8531-8532-8533-Mã ngành giáo dục nghề nghiệp

Theo đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo đính chính như sau:Danh sách các nhóm ngành đào tạo trình độ đại học

Số và ngày của Thông tư số 16/2024/TT-BGDĐT đã in: “Thông tư số 16/2024/TT-BGDĐT ngày 20 tháng 11 năm 2024 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo…”Nay sửa thành: “Thông tư số 12/2024/TT-BGDĐT ngày 10 tháng 10 năm 2024 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo…”.

Thông tư 12/2024/TT-BGDĐT có hiệu lực thi hành từ ngày 5/1/2025.Sinh viên Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (USTH)

So với quy định tại Thông tư 02/2022/TT-BGDĐT, Thông tư mới chủ yếu bổ sung, sửa đổi một số yêu cầu về trình độ, năng lực giảng viên đối với cơ sở đào tạo khi mở ngành đào tạo các trình độ đại học, thạc sĩ và tiến sĩ.Danh mục giáo dục đào tạo cấp IV trình độ Tiến sĩ (Tiến sĩ khoa học)

Theo đó, giảng viên chủ trì xây dựng, tổ chức thực hiện chương trình đào tạo và giảng viên chủ trì giảng dạy chương trình đào tạo phải là giảng viên cơ hữu không quá tuổi nghỉ hưu tối đa theo quy định của Chính phủ. Hằng năm, trực tiếp giảng dạy trọn vẹn một số học phần bắt buộc hoặc hướng dẫn chính luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ trong chương trình đào tạo.

Với điều kiện mở ngành đào tạo trình độ đại học, cơ sở giáo dục đại học cần đảm bảo có từ 5 giảng viên trình độ tiến sĩ trở lên, ở ngành phù hợp để chủ trì dạy tối thiểu hai môn cốt lõi trong một thành phần của chương trình đào tạo, đồng thời đã có ít nhất 2 năm kinh nghiệm trực tiếp giảng dạy trọn vẹn các học phần đó.Danh mục giáo dục đào tạo cấp IV trình độ Thạc sĩ (Cao học)

Để mở ngành đào tạo trình độ thạc sĩ, cơ sở giáo dục đại học cần đảm bảo có ít nhất 05 tiến sĩ ngành phù hợp là giảng viên cơ hữu, trong đó có một giáo sư hoặc phó giáo sư có kinh nghiệm quản lý đào tạo hoặc giảng dạy đại học tối thiểu từ 03 năm trở lên (không trùng với giảng viên cơ hữu là điều kiện mở ngành đào tạo trình độ thạc sĩ của các ngành khác), chịu trách nhiệm chủ trì xây dựng, tổ chức thực hiện chương trình đào tạo.

Nhiều trường ĐH đứng trước nguy cơ phải dừng đào tạo tiến sĩ do thiếu GS, PGS Danh sách các ngành nghề đào tạo cấp IV trình độ Đại học

Bên cạnh đó, trong 5 năm gần nhất, số giảng viên của ngành đào tạo thạc sĩ phải có ít nhất 2 năm kinh nghiệm trực tiếp giảng dạy trên 50% số học phần trong chương trình đào tạo; đồng thời đã công bố tổng số ít nhất 20 bài báo, báo cáo khoa học trên các tạp chí khoa học được Hội đồng giáo sư Nhà nước tính điểm cho ngành đào tạo, với vai trò là tác giả đứng đầu hoặc tác giả liên hệ.

Để mở ngành đào tạo trình độ tiến sĩ, cơ sở giáo dục đại học cần đảm bảo có ít nhất 01 giáo sư hoặc 02 phó giáo sư và 03 tiến sĩ ngành phù hợp là giảng viên cơ hữu, trong đó có một giáo sư hoặc phó giáo sư có kinh nghiệm quản lý đào tạo hoặc giảng dạy đại học tối thiểu từ 03 năm trở lên (không trùng với giảng viên cơ hữu là điều kiện mở ngành đào tạo trình độ tiến sĩ của các ngành khác), chịu trách nhiệm chủ trì xây dựng, tổ chức thực hiện chương trình đào tạo.

Ngoài ra, trong 5 năm gần nhất, số giảng viên này cần đảm bảo đã tham gia hướng dẫn 5 luận án tiến sĩ thuộc ngành đào tạo được bảo vệ thành công (tại một cơ sở đào tạo khác); đồng thời đã công bố tổng số ít nhất 50 bài báo, báo cáo khoa học trên các tạp chí khoa học được Hội đồng giáo sư nhà nước tính điểm cho ngành đào tạo, với vai trò là tác giả đứng đầu hoặc tác giả liên hệ.

Ngoài đặt thêm yêu cầu về chất lượng, trình độ giảng viên khi mở ngành, Thông tư mới cũng làm rõ hơn khái niệm “ngành phù hợp”.Theo đó, một ngành được đánh giá là phù hợp với ngành khác khi cùng tên với ngành đào tạo hoặc đáp ứng quy định trong chuẩn chương trình đào tạo do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành;Nhiều trường ĐH đứng trước nguy cơ phải dừng đào tạo tiến sĩ do thiếu GS, PGS

Trường hợp chưa có chuẩn chương trình đào tạo của lĩnh vực, nhóm ngành tương ứng, việc xác định ngành phù hợp sẽ do Hội đồng khoa học và đào tạo của cơ sở đào tạo xác định.Việc xác định ngành phù hợp cũng có thể được thực hiện qua việc lấy ý kiến của Hội đồng tư vấn chuyên môn do Bộ Giáo dục và Đào tạo thành lập.

Đăng ký bổ sung mở mã ngành phù hợp trực tuyến

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư 16/2024/TT-BGDĐT sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 02/2022/TT-BGDĐT.Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư 16/2024/TT-BGDĐT sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 02/2022/TT-BGDĐT quy định điều kiện, trình tự, thủ tục mở ngành đào tạo, đình chỉ hoạt động của ngành đào tạo trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ. Thông tư này có hiệu lực từ 05/01/2025.

Theo đó, về đội ngũ giảng viên, Thông tư 16 bổ sung điểm d vào Khoản 2, Điều 3 như sau:

“d) Giảng viên chủ trì xây dựng, tổ chức thực hiện chương trình đào tạo và giảng viên chủ trì giảng dạy chương trình đào tạo phải là giảng viên cơ hữu không quá tuổi nghỉ hưu tối đa theo quy định của Chính phủ về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập; hằng năm trực tiếp giảng dạy trọn vẹn một số học phần bắt buộc hoặc hướng dẫn chính luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ trong chương trình đào tạo”.

Đặc biệt, Thông tư 16 bổ sung các khoản 8, 9 vào Điều 3 như sau:“8. Ngành phù hợp ở trình độ tiến sĩ, thạc sĩ đối với một số ngành đào tạo trình độ thấp hơn phải đáp ứng một trong số các yêu cầu sau:

a) Cùng tên với ngành đào tạo hoặc đáp ứng quy định trong chuẩn chương trình đào tạo do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành;

b) Trường hợp chưa có chuẩn chương trình đào tạo của lĩnh vực, nhóm ngành tương ứng: Có căn cứ khoa học và thực tiễn và được Hội đồng khoa học và đào tạo của cơ sở đào tạo xác định là ngành có nền tảng chuyên môn gần nhất đối với ngành đào tạo, được phần lớn người tốt nghiệp ngành đào tạo lựa chọn khi học lên trình độ cao hơn;

c) Được Bộ Giáo dục và Đào tạo xác nhận dựa trên ý kiến của Hội đồng tư vấn chuyên môn do Bộ Giáo dục và Đào tạo thành lập.

Ngành phù hợp ở trình độ tiến sĩ đối với một ngành đào tạo cùng trình độ phải đáp ứng một trong các yêu cầu sau:

a) Cùng tên với ngành đào tạo hoặc đáp ứng quy định trong chuẩn chương trình đào tạo do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành;

b) Trường hợp chưa có chuẩn chương trình đào tạo của lĩnh vực, nhóm ngành tương ứng: Có căn cứ khoa học và thực tiễn và được Hội đồng khoa học và đào tạo của cơ sở đào tạo xác định là ngành có cùng nền tảng chuyên môn và thuộc cùng nhóm ngành với ngành đào tạo;

c) Được Bộ Giáo dục và Đào tạo xác nhận dựa trên ý kiến của Hội đồng tư vấn chuyên môn do Bộ Giáo dục và Đào tạo thành lập”.

Khó khăn trong tìm “tiến sĩ ngành phù hợp” để mở ngành: Trường ĐH có kiến nghị Chuyên gia hiến kế giúp trường đại học gỡ khó khi tìm “tiến sĩ ngành phù hợp”Ngoài ra, Thông tư 16 cũng sửa đổi, bổ sung điều kiện mở ngành đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ.Theo đó, về điều kiện mở ngành đào tạo trình độ thạc sĩ bổ sung khoản 4, Điều 5 như sau:“4.Có kinh nghiệm trong tổ chức đào tạo, nghiên cứu khoa học liên quan tới ngành đào tạo, đáp ứng một trong các điều kiện sau:

a) Ngành đào tạo trình độ thạc sĩ là ngành phù hợp đối với một ngành đã đào tạo và cấp bằng ở trình độ đại học;

b) Trong 5 năm gần nhất, số giảng viên quy định tại khoản 1, Điều 5 đã có ít nhất 2 năm kinh nghiệm trực tiếp giảng dạy trên 50% số học phần trong chương trình đào tạo; đồng thời đã công bố tổng số ít nhất 20 bài báo, báo cáo khoa học trên các tạp chí khoa học được Hội đồng giáo sư nhà nước tính điểm cho ngành đào tạo, với vai trò là tác giả đứng đầu hoặc tác giả liên hệ”.Còn đối với điều kiện mở ngành đào tạo trình độ tiến sĩ, Thông tư 16 sửa đổi, bổ sung khoản 4 và khoản 5 của Điều 6 như sau:

“4. Có kinh nghiệm trong tổ chức đào tạo, nghiên cứu khoa học liên quan tới ngành đào tạo, đáp ứng một trong các điều kiện sau:

a) Ngành đào tạo trình độ tiến sĩ là ngành phù hợp đối với một ngành đã đào tạo và cấp bằng ở trình độ thạc sĩ;

b) Trong 5 năm gần nhất, số giảng viên quy định tại khoản 1, Điều 6 đã tham gia hướng dẫn 5 luận án tiến sĩ thuộc ngành đào tạo được bảo vệ thành công (tại một cơ sở đào tạo khác); đồng thời đã công bố tổng số ít nhất 50 bài báo, báo cáo khoa học trên các tạp chí khoa học được Hội đồng giáo sư nhà nước tính điểm cho ngành đào tạo, với vai trò là tác giả đứng đầu hoặc tác giả liên hệ.

Đạt các tiêu chí của chuẩn cơ sở giáo dục đại học áp dụng cho cơ sở đào tạo tiến sĩ bao gồm:Khó khăn trong tìm “tiến sĩ ngành phù hợp” để mở ngành: Trường ĐH có kiến nghị

a) Tiêu chí 2.3 về tỷ lệ giảng viên toàn thời gian có trình độ tiến sĩ;

b) Tiêu chí 6.1 về tỉ trọng thu từ các hoạt động khoa học và công nghệ (trừ các cơ sở đào tạo thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an);

c) Tiêu chí 6.2 về số lượng công bố khoa học và công nghệ tính bình quân trên một giảng viên toàn thời gian”.Chuyên gia hiến kế giúp trường đại học gỡ khó khi tìm “tiến sĩ ngành phù hợp”

Đặc biệt, Thông tư 16 bổ sung điểm c vào khoản 4, Điều 8 về xây dựng đề án, chuẩn bị điều kiện mở ngành đào tạo như sau:

“c) Trường hợp chưa có đủ căn cứ để xác định rõ ngành phù hợp của giảng viên, cơ sở đào tạo gửi báo cáo các thông tin liên quan theo quy định tại điểm d, khoản 8, Điều này và đề nghị Bộ giáo dục và Đào tạo thành lập Hội đồng tư vấn chuyên môn để thẩm định và xác nhận. Hội đồng tư vấn chuyên môn có từ 3 đến 5 thành viên là giảng viên, chuyên gia có trình độ và kinh nghiệm chuyên môn phù hợp, đại diện các cơ sở đào tạo có uy tín về ngành, nhóm ngành liên quan”.

Độc giả xem chi tiết Thông tư 16, TẠI ĐÂY.

Trước đó, nhận thấy bất cập về tiến sĩ “ngành phù hợp” chủ trì ngành, trong tháng 10/2024, Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam đã tổ chức tuyến bài ghi nhận ý kiến của các cơ sở giáo dục đại học, chuyên gia về những vướng mắc này, đồng thời tổ chức tọa đàm và tổng hợp các ý kiến từ tọa đàm gửi tới Bộ Giáo dục và Đào tạo. Đến nay, Tạp chí đã nhận được văn bản phúc đáp từ Qúy Bộ.