Cả nước có 526 trung tâm GDNN-GDTX đang vận hành thế nào ?

Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức Hội nghị Giám đốc các Trung tâm giáo dục thường xuyên toàn quốc tại Trường Đại học Hà Nội.Tham dự hội nghị có Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Kim Sơn, Thứ trưởng Phạm Ngọc Thưởng cùng đại diện Ban Tuyên giáo Trung ương; Uỷ ban Văn hoá, Giáo dục của Quốc hội; Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội; lãnh đạo các đơn vị trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo ở các tỉnh, thành phố cùng giám đốc các trung tâm giáo dục thường xuyên trên toàn quốc.

Luật Giáo dục 2019 quy định hệ thống giáo dục quốc dân là hệ thống giáo dục mở, liên thông gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên, giáo dục thường xuyên là một hệ thống cấu thành của hệ thống giáo dục quốc dân với hệ thống 19.391 cơ sở giáo dục thường xuyên gồm: Trung tâm Giáo dục thường xuyên, Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên, Trung tâm Học tập cộng đồng và các Trung tâm khác thực hiện nhiệm vụ giáo dục thường xuyên.

Trung tâm thực hiện các chương trình giáo dục thường xuyên gồm: Chương trình xóa mù chữ; chương trình giáo dục đáp ứng yêu cầu của người học, cập nhật kiến thức, kỹ năng, chuyển giao công nghệ; chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực nghề nghiệp; chương trình giáo dục thuộc chương trình để cấp văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân.

Giáo dục thường xuyên hướng tới tạo ra hệ sinh thái giáo dục linh hoạt, bền vững và hiệu quả.Báo cáo tại hội nghị, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Thường xuyên (Bộ Giáo dục và Đào tạo) Hoàng Đức Minh cho biết: “Trong 3 năm gần đây, số lượng các trung tâm ổn định về quy mô và số lượng. Đặc biệt, đối với trung tâm giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên sau khi sáp nhập từ các trung tâm cấp huyện đến nay hoạt động đã từng bước đi vào ổn định.

Năm học 2023-2024, cả nước có 92 trung tâm giáo dục thường xuyên, 526 trung tâm giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên; số phòng học và phòng chức năng tại các trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên là 10.658; phòng thí nghiệm, thư viện, máy tính là 4.438. Về cơ bản, điều kiện cơ sở vật chất của các trung tâm đã đảm bảo tối thiểu cho việc dạy học các chương trình giáo dục thường xuyên”.

Vụ trưởng Vụ Giáo dục thường xuyên Hoàng Đức Minh báo cáo tại hội nghị.Theo ông Hoàng Đức Minh, để thực hiện các chương trình giáo dục thường xuyên, trong năm học 2023-2024, cả nước đã huy động được 90.508 học viên tham gia học các lớp xoá mù chữ, tăng gần 2,8 lần số học viên so với năm học trước. Trong đó, số lượng học viên theo học là người dân tộc thiểu số chiếm 93,73%.

Cũng trong năm TRƯỚc{dangkytuyensinh.Edu}, số lượt người học tham gia các lớp chuyên đề phổ biến, cập nhật kiến thức, kỹ năng và các lớp bồi dưỡng thường xuyên khác tại trung tâm học tập cộng đồng và trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên là 23.677.962 lượt người học (tăng 7.266.436 lượt người học so với năm học TRước {tuyen-sinh.vn}).

Các trung tâm khác thực hiện nhiệm vụ giáo dục thường xuyên đã đáp ứng nhu cầu học tập, bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học cho khoảng hơn 1.187.701 lượt người học.

Mặc dù Trung tâm giáo dục thường xuyên và Trung tâm giáo dục thường xuyên – Giáo dục nghề nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng xã hội học tập và phát triển nguồn nhân lực, nhưng vẫn còn một số hạn chế cần phải được khắc phục để nâng cao hiệu quả hoạt động của các trung tâm này.

“Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong hoạt động của giáo dục thường xuyên là do nhận thức của xã hội về giáo dục thường xuyên còn hạn chế, nguồn lực tài chính đầu tư cho quy mô phát triển trung tâm còn hạn hẹp, thiếu đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn giáo dục thường xuyên, chương trình đào tạo chưa linh hoạt và chưa phù hợp với nhu cầu thị trường.

Đồng thời, cơ sở vật chất và trang thiết bị còn lạc hậu, đặc biệt là ở vùng nông thôn và miền núi, thiếu sự đổi mới và ứng dụng công nghệ trong giáo dục, công tác chỉ đạo trực tiếp tại các địa phương chưa có sự phân hóa đối với từng vùng miền.

Trong thời gian tới, các chính sách phát triển trung tâm cần tập trung vào việc tạo ra một hệ sinh thái giáo dục linh hoạt, bền vững, hiệu quả với sự kết hợp giữa nhà nước, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội. Các giải pháp chính sách phải hướng đến việc nâng cao chất lượng giáo dục, tạo điều kiện học tập cho mọi đối tượng cũng như đảm bảo rằng các trung tâm có thể cung cấp những chương trình giáo dục và đào tạo phù hợp với nhu cầu thay đổi của xã hội và thị trường lao động”, ông Hoàng Đức Minh nhấn mạnh.

Phát huy hơn nữa “dư địa” của giáo dục thường xuyên.Cũng tại hội nghị, lãnh đạo các Sở Giáo dục và Đào tạo cùng giám đốc các trung tâm giáo dục thường xuyên đã trao đổi về kết quả quản lý, kinh nghiệm hoạt động, chia sẻ những khó khăn, vướng mắc và đề xuất, kiến nghị các giải pháp để khắc phục khó khăn, phát huy hơn nữa “dư địa”, hiệu quả của giáo dục thường xuyên với phát triển giáo dục, đào tạo và xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời.

Ông Lê Hoài Nam – Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh trao đổi về những kinh nghiệm trong triển khai thực tiễn tại hội nghị.

Chia sẻ về những bài học kinh nghiệm để triển khai thực hiện công tác quản lý chất lượng hoạt động hiệu quả các trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên trên địa bàn, ông Lê Hoài Nam – Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh cho biết: “Trước tiên, chúng ta cần phải nghiên cứu các văn bản chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, kịp thời hướng dẫn các trung tâm triển khai thực hiện đồng bộ, tăng cường công tác kiểm tra, đảm bảo tổ chức các chương trình giáo dục thường xuyên đúng quy định.

Thứ hai, cần tăng cường công tác phối hợp giữa ngành giáo dục thành phố với các địa phương trên địa bàn trong công tác quản lý các trung tâm, quan tâm đầu tư, cải tạo, xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học đáp ứng điều kiện tổ chức các chương trình giáo dục thường xuyên.

Thứ ba, tăng cường công tác tập huấn chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ quản lý, giáo viên; tổ chức các kỳ thi, hội thi cấp thành phố, tạo sân chơi riêng cho học viên giáo dục thường xuyên; cập nhật những phương pháp giảng dạy mới, góp phần xây dựng uy tín và thương hiệu, thúc đẩy các trung tâm không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục.

Thứ tư, tăng cường công tác truyền thông giáo dục thường xuyên, chuyển đổi số, đẩy mạnh cải cách hành chính và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, tổ chức dạy và học”.

Bên cạnh đó, trao đổi thêm về công tác tự chủ đối với các trung tâm giáo dục thường xuyên, ông Hoàng Tiến Dũng – Giám đốc Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Hải Dương cho biết, chính sách tự chủ tài chính đã mang lại những thay đổi quan trọng trong cách thức hoạt động tài chính của các trung tâm giáo dục thường xuyên như tăng cường tính chủ động trong quản lý, có quyền tự quyết định về các vấn đề tài chính, khuyến khích các trung tâm tìm kiếm và đa dạng hóa nguồn thu nhập…

Ông Hoàng Tiến Dũng – Giám đốc Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Hải Dương phát biểu tại hội nghị.

Theo ông Hoàng Tiến Dũng, tự chủ là cần thiết để giáo dục thường xuyên phát triển, vì vậy, cần hoàn thiện cơ chế chính sách và khung pháp lý để hỗ trợ các trung tâm giáo dục thường xuyên trong việc thực hiện tự chủ tài chính. Đồng thời, cần có chính sách đào tạo chuyên biệt về đội ngũ cung cấp cho hệ thống giáo dục thường xuyên để đảm bảo nguồn nhân lực về lâu dài cho hệ thống và sớm có chính sách thống nhất về quản lý và phân cấp đối với trung tâm giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên.

Điều chỉnh tâm thế, tư duy, cách làm để chuẩn bị cho đổi mới sắp tới.Tổng hợp các nhóm vấn đề lớn được quan tâm trao đổi và kiến nghị tại hội nghị như vai trò của trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên, quản trị mô hình giáo dục thường xuyên, chính sách, định biên giáo viên, mô hình quản lý, đầu tư cơ sở vật chất, chuyên môn, học liệu số…Thứ trưởng Phạm Ngọc Thưởng đề nghị các đơn vị thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo ghi nhận, tổng hợp giải đáp và tham mưu chính sách phù hợp trong thời gian tới.

Thứ trưởng Phạm Ngọc Thưởng phát biểu tại hội nghị.Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Bộ trưởng Nguyễn Kim Sơn khẳng định lại vai trò lịch sử của giáo dục thường xuyên trong quá khứ, đó là lịch sử dài, vẻ vang và có đóng góp to lớn cho đất nước; từ phong trào xoá mù chữ, bình dân học vụ ngay khi đất nước giành độc lập, tới hình thành các trường bổ túc văn hoá và sau đó là hệ thống giáo dục thường xuyên.

“Giáo dục thường xuyên giữ vai trò quan trọng trong tiến trình đổi mới, phát triển giáo dục, đào tạo và là một hợp phần cốt lõi, không thể thiếu trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc gia. Tuy nhiên, cần phải làm rõ hơn những thành tựu đổi mới mà giáo dục thường xuyên đã đạt được trong 10 năm qua, đặc biệt trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết 29 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.

Giáo dục thường xuyên đã vượt khó, đã nỗ lực, đã làm được nhiều việc nhưng thẳng thắn rằng sự đổi mới ở mảng giáo dục thường xuyên còn vừa phải và còn nhiều việc phải làm phía trước. Mục tiêu đặt ra là đổi mới mạnh mẽ hơn nữa cho tương xứng với đổi mới của toàn ngành”, Bộ trưởng nhận định.

Đồng thời, Bộ trưởng Nguyễn Kim Sơn cho rằng, đã đến lúc có các khảo sát, đánh giá cần thiết về giáo dục thường xuyên và cuộc hội nghị này có tính chất đặt vấn đề để sau đó sẽ triển khai một chặng đường đổi mới với giáo dục thường xuyên và giáo dục nghề nghiệp.

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Kim Sơn phát biểu chỉ đạo tại hội nghị.Song song với việc đảm nhận vai trò “nòng cốt” trong nhiều nhiệm vụ trọng yếu, Bộ trưởng nhấn mạnh rằng, giáo dục thường xuyên cần tích cực xóa mù chữ, ngăn ngừa tái mù ở người trưởng thành, đồng thời đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, thúc đẩy học tập suốt đời và chuẩn bị nền tảng xây dựng cho Luật Học tập suốt đời.

Với chỉ đạo “Trung tâm giáo dục thường xuyên phải làm nòng cốt, chỗ dựa cho các trung tâm học tập cộng đồng”, Bộ trưởng định hướng những nhiệm vụ mới cho giáo dục thường xuyên, đó là chuẩn bị cho phong trào bình dân học vụ số, “xóa mù số”, phổ cập kỹ năng số; đồng thời phối hợp cùng toàn ngành giáo dục thực hiện theo Kết luận số 91 của Bộ Chính trị, từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học.

Bộ trưởng nhấn mạnh: “Với vai trò nòng cốt, giáo dục thường xuyên có rất nhiều việc phải làm trong thời gian tới. Các Trung tâm Giáo dục thường xuyên, Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên cần bám sát địa phương, nắm chắc chiến lược phát triển và nhu cầu nhân lực tại chỗ. Đồng thời, cần tổ chức các mô hình đào tạo đa dạng, linh hoạt và đẩy mạnh giáo dục cá thể hóa để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người học.

Rất mong các giám đốc trung tâm chủ động đề xuất chính sách, xây dựng mô hình mới và mạnh dạn thí điểm đổi mới. Giáo dục thường xuyên cần điều chỉnh tư duy, tâm thế và cách làm, sẵn sàng cho giai đoạn đổi mới sắp tới”.

Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội (HUNRE)

Tên trường: Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội

Tên tiếng Anh: Hanoi University of Natural Resources and Environment (HUNRE)

Mã trường: DMT

Loại trường: Công lập

Hệ đào tạo: Đại học – Cao đẳng – Sau đại học – Văn bằng 2 – Liên thông – Liên kết quốc tế

Ban hành Danh mục ngành, nghề đào tạo cấp IV trình độ trung cấp

Ban hành Danh mục ngành, nghề đào tạo cấp IV trình độ cao đẳng

Danh sách các ngành nghề đào tạo cấp IV trình độ Đại học

Danh sách các nhóm ngành đào tạo trình độ đại học

Danh mục giáo dục đào tạo cấp IV trình độ Thạc sĩ (Cao học)

Danh mục giáo dục đào tạo cấp IV trình độ Tiến sĩ (Tiến sĩ khoa học)

Địa chỉ: 41A đường Phú Diễn, Quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội

SĐT: 024.38370598 – 0902.130.130

Email: dhtnmt@hunre.edu.vn – dcac@hunre.edu.vn

Website: https://hunre.edu.vn/

Facebook: www.facebook.com/FanpageHunre/

Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội là cơ sở giáo dục đại học công lập trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, chịu sự quản lý quản lý Nhà nước về giáo dục và đào tạo của Bộ Giáo dục và đào tạo, được thành lập theo Quyết định số 1583/2010/QĐ-TTg ngày 23 tháng 8 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở nâng cấp Trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội. Trường là cơ sở đào tạo đa ngành với nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho quản lý nhà nước về lĩnh vực tài nguyên môi trường và nhu cầu xã hội ở trình độ thạc sỹ, đại học; từ trung ương, địa phương, các doanh nghiệp đến cộng đồng.

     Với bề dày gần 70 năm lịch sử, Nhà trường đã đào tạo trên 23.000 Thạc sĩ, Kỹ sư, Cử nhân, Trung cấp chuyên nghiệp, Sơ cấp và Công nhân kỹ thuật các ngành: Khí tượng, Thủy văn, Đo đạc bản đồ, Quản lý đất đai, Kỹ thuật môi trường, Quản lý môi trường, Trắc địa – Bản đồ, Địa chính, Tin học,… cho đất nước với: 14 khóa sơ cấp, 45 khóa trung cấp, 16 khóa cao đẳng, 27 khóa chuyên tu đại học, 8 khóa đại học liên thông, tuyển sinh được 13 khóa đại học chính quy, 8 khóa thạc sĩ.

     Hiện nay, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội có 12 Khoa, 03 Bộ môn, 08 Phòng chức năng, 11 Trung tâm và Phân hiệu tại tỉnh Thanh Hóa với quy mô hơn 15.000 sinh viên, học viên ở các trình độ khác nhau. Đội ngũ cán bộ công chức, viên chức và người lao động của Trường ngày càng được nâng cao về trình độ và chuyên môn nghiệp vụ, cụ thể như sau: GS: 1 người, PGS: 15 người; Tiến sĩ: 120 người.

     Hiện nay, Nhà trường đang đào tạo ở bậc Đại học với 23 ngành bao gồm: Công nghệ kỹ thuật môi trường; Thủy văn học; Kế toán; Quản lý tài nguyên nước; Kỹ thuật trắc địa bản đồ; Quản lý đất đai; Khí tượng khí hậu học; Công nghệ thông tin; Quản lý tài nguyên môi trường; Kỹ thuật địa chất; Quản lý biển; Biến đổi khí hậu và phát triển bền vững; Kinh tế tài nguyên thiên nhiên; Quản trị Dịch vụ du lịch và lữ hành; Quản trị kinh doanh; Quản trị khách sạn; Marketing; Sinh học ứng dụng; Logistics và quản lý chuỗi cung ứng; Ngôn ngữ Anh; Luật, Bất động sản, Đảm bảo chất lượng và an toàn thực phẩm. Trường đào tạo thạc sĩ với 6 ngành: Khoa học Môi trường; Kỹ thuật Trắc địa – Bản đồ; Thuỷ văn học; Quản lý Đất đai; Khí tượng và Khí hậu học, Quản lý tài nguyên môi trường.  

     Mặc dù còn có những khó khăn nhưng Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội luôn luôn cố gắng không ngừng đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy, gắn đào tạo với đáp ứng nhu cầu của thực tiễn xã hội tạo điều kiện tốt nhất cho các em sinh viên học tập, rèn luyện và phát triển toàn diện.

 

Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (USTH)

Tên trường: Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội

Tên tiếng Anh: University of Science and Technology of Hanoi (USTH)

Mã trường: KCN

Loại trường: Công lập

Hệ đào tạo: Đại học – Thạc sĩ – Tiến sĩ – quốc tế

Danh sách các nhóm ngành đào tạo trình độ đại học

Danh sách các ngành nghề đào tạo cấp IV trình độ Đại học

Danh mục giáo dục đào tạo cấp IV trình độ Thạc sĩ (Cao học)

Danh mục giáo dục đào tạo cấp IV trình độ Tiến sĩ (Tiến sĩ khoa học)

Địa chỉ: Tòa nhà A21, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội

SĐT: +84-24 37 91 69 60

Email: admission@usth.edu.vn – admission.usth@gmail.com – officeusth@usth.edu.vn

Website: https://www.usth.edu.vn/

Facebook: www.facebook.com/usth.edu.vn/

CHỨC NĂNG VÀ NHIỆM VỤ University of Science and Technology of Hanoi (USTH)

Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao về khoa học và công nghệ, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam, đặc biệt trong những lĩnh vực khoa học, công nghệ mũi nhọn;Đào tạo các trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ; gắn kết chặt chẽ hoạt động đào tạo với hoạt động nghiên cứu khoa học;Tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghệ trong mối liên hệ chặt chẽ với doanh nghiệp, phổ biến kết quả nghiên cứu và thực hiện chuyển giao công nghệ;

Tư vấn hướng nghiệp, hỗ trợ học tập và theo dõi sinh viên sau tốt nghiệp.Tổ chức các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho mọi đối tượng có nhu cầu;Thực hiện các dịch vụ công theo quy định của pháp luật;Hợp tác với các cơ sở giáo dục đại học, các tổ chức nghiên cứu của Việt Nam, của Pháp và các cơ sở, tổ chức quốc tế khác nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ nêu trên.

HỘI ĐỒNG KHOA HỌC VÀ ĐÀO TẠO: 24 thành viên

Hiện tại Trường ĐHKHCNHN đang chờ hiệu trưởng mới sang (dự kiến vào tháng 8/2019) để bầu lại hội đồng khoa học do nhiều thành phần trong hội đồng khoa học hiện tại là người Pháp đã rời trường, vì vậy trường xin phép được để trống mục này và cập nhật sau.

CƠ CẤU TỔ CHỨC University of Science and Technology of Hanoi (USTH)

Hội đồng Trường, Hội đồng Nội trị, Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Ban Giám hiệu, các Khoa, Ban, Phòng/Bộ phận, Trung tâm, các đoàn thể và tổ chức chính trị – xã hội.

Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (còn được gọi là Đại học Việt Pháp) là một ngôi trường công lập được thành lập năm 2009 trong khuôn khổ Hiệp định liên Chính phủ giữa hai nước Việt Nam và Pháp.

Chính sách học phí Đối tượng được miễn học phí

Người có công với cách mạng. Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; bệnh binh.Con của người hoạt động cách mạng trước ngày 01/01/1945; Con của người hoạt động cách mạng từ ngày 01/01/1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945.Con của anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; Con của Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến.Sinh viên là con liệt sĩ,Sinh viên là con của thương binh,Sinh viên là con của bệnh binh.Sinh viên là con của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học.

Người từ 16 tuổi đến 22 tuổi đang học giáo dục đại học văn bằng thứ nhất mồ côi, không có nguồn nuôi dưỡng thuộc đối tượng bảo trợ xã hội hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng theo quy định tại điều 5, Nghị định 20/2021/NĐ-CP

Sinh viên khuyết tật Sinh viên là người dân tộc thiểu số có cha hoặc mẹ hoặc ông bà (trường hợp ở với ông bà) thuộc hộ nghèo và hộ cận nghèo.Sinh viên người dân tộc thiểu số rất ít người có hộ khẩu thường trú ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn theo quy định của cơ quan có thẩm quyền.Học sinh, sinh viên hệ cử tuyển theo quy định của Chính phủ về chế độ cử tuyển vào các cơ sở giáo dục đại học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân.

Đối tượng được miễn giảm học phí.Miễn giảm 70% đối với sinh viên là người dân tộc thiểu số (không phải là dân tộc thiểu số rất ít người) ở thôn/bản đặc biệt khó khăn, xã khu vực III vùng dân tộc và miền núi, xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển hải đảo theo quy định của cơ quan có thẩm quyền.

Miễn giảm 50% đối với sinh viên là con cán bộ, công chức, viên chức, công nhân mà cha hoặc mẹ bị tai nạn lao động hoặc mắc bệnh nghề nghiệp được hưởng trợ cấp thường xuyên

Trường được xây dựng nên với định hướng là trở thành trường đại học xuất sắc đẳng cấp quốc tế đào tạo về khoa học và công nghệ. Trường được quản lý bởi Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, bên cạnh đó còn nhận được sự hỗ trợ từ Liên minh 40 trường đại học, tổ chức nghiên cứu uy tín Pháp trong đào tạo và nghiên cứu.

Cao Đẳng Hậu Cần 2 thuộc Tổng cục Hậu cần Kỹ thuật

Cao đẳng Hậu cần 2 thuộc Tổng cục Hậu cần Kỹ thuật

Tên tiếng Anh: Logistics College 2 General Department of Logistics

Mã trường: QP05
Loại hình: Công An- Quân Đội

Hệ đào tạo: Cao đẳng – Trung cấp – Sơ cấp – liên thông – hợp tác quốc tế

Chuẩn đầu ra các ngành Khung đào tạo trình độ trung cấp chuyên nghiệp

Khung chương trình Các ngành đào tạo trình độ cao đẳng

Khung chương trình Các nghề đào tạo hệ cao đẳng nghề

Danh sách các nhóm ngành đào tạo trình độ đại học

Trụ sở chính: 50 Lê Văn Việt, phường Hiệp Phú, Thành phố Thủ Đức, Ho Chi Minh City, Vietnam

Điện thoại:  0944 448 009– Email: caodanghaucan2@gmail.com

Website: https://caodanghaucan2.edu.vn/
Facebook: www.facebook.com/caodanghaucan2/

Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và lãnh đạo Bộ Quốc phòng đã làm việc với Tổng cục Hậu cần về kết quả công tác năm 2023 và phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm năm tuyen-sinh.vn.

Dự buổi làm việc có các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng: Thượng tướng Nguyễn Tân Cương, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Thượng tướng Vũ Hải Sản, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Thượng tướng Huỳnh Chiến Thắng, Phó tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam; Thượng tướng Trịnh Văn Quyết, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam. Dự buổi làm việc còn có đại biểu lãnh đạo, chỉ huy một số cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng.

Sáp nhập Tổng cục Hậu cần và Tổng cục Kỹ thuật theo lộ trình, bảo đảm tinh, gọn, mạnh Trường Cao đẳng Hậu cần 2 (Tổng cục Hậu cần Kỹ thuật)

 Đại tướng Phan Văn Giang chủ trì buổi làm việc.Phát biểu kết luận hội nghị, Đại tướng Phan Văn Giang biểu dương Tổng cục Hậu cần và cơ quan hậu cần các cấp đã chủ động khắc phục khó khăn, phát huy tinh thần tự lực, tự cường, bảo đảm hậu cần tốt cho nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu (SSCĐ) và các nhiệm vụ khác. Chủ động phối hợp với Tổng cục Kỹ thuật và các cơ quan liên quan, tham mưu điều chỉnh lực lượng hậu cần-kỹ thuật đúng quan điểm, chủ trương nghị quyết của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương về lãnh đạo thực hiện tổ chức biên chế QĐND Việt Nam giai đoạn 2021-2030 và những năm tiếp theo, bước đầu đạt kết quả thiết thực, giữ vững ổn định mọi mặt.

Tích cực tham mưu, chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các chỉ tiêu về công tác hậu cần mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI xác định. Có nhiều biện pháp hoàn thiện phương thức bảo đảm vật chất hậu cần phù hợp với thực tiễn; các đề án, dự án trọng điểm, chương trình, mục tiêu ngành hậu cần được triển khai tích cực, hiệu quả, nâng cao đời sống bộ đội.

Sáp nhập Tổng cục Hậu cần và Tổng cục Kỹ thuật theo lộ trình, bảo đảm tinh, gọn, mạnh Trường Cao đẳng Hậu cần 2 (Tổng cục Hậu cần Kỹ thuật) Toàn cảnh hội nghị. Sáp nhập Tổng cục Hậu cần và Tổng cục Kỹ thuật theo lộ trình, bảo đảm tinh, gọn, mạnh

Các đại biểu dự hội nghị.Trường Cao đẳng Hậu cần 2 (Tổng cục Hậu cần) đã đẩy mạnh phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, tạo đột phá đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương pháp giáo dục-đào tạo (GD-ĐT).Chấp hành Nghị quyết số 230, ngày 02/4/2022 của Quân ủy Trung ương; Kế hoạch số 1228 ngày 25/4/2022 của Bộ Quốc phòng về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 – 2030 và những năm tiếp theo, ngày 23/9/2024 Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã có Quyết định số 4354 về việc sáp nhập tổ chức lại Cục Hậu cần, Cục Kỹ thuật thành Cục Hậu cần – Kỹ thuật Quân khu 5.

Cùng với đó, công tác xây dựng ngành, chuyển đổi số, cải cách hành chính, công tác đối ngoại hậu cần đạt nhiều kết quả tích cực. Phong trào thi đua “Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy” được triển khai toàn diện, đồng bộ, có chiều sâu, tạo động lực thúc đẩy cơ quan, đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Định hướng, gợi ý những trọng tâm trong thời gian tới, Bộ trưởng Phan Văn Giang đề nghị Tổng cục Hậu cần tiếp tục thực hiện tốt tham mưu với Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, chủ động nghiên cứu, dự báo, nắm chắc tình hình tác động đến công tác hậu cần, kịp thời tham mưu, đề xuất, chỉ đạo, bảo đảm tốt hậu cần cho nhiệm vụ huấn luyện, SSCĐ, thường xuyên và nhiệm vụ đột xuất. Tham mưu, chỉ đạo triển khai cơ bản hoàn thành điều chỉnh tổ chức biên chế lực lượng hậu cần; sáp nhập cơ quan hậu cần-kỹ thuật cấp chiến dịch, sáp nhập Tổng cục Hậu cần và Tổng cục Kỹ thuật theo lộ trình, bảo đảm tinh, gọn, mạnh, đủ sức hoàn thành mọi nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và xây dựng Quân đội.

Sáp nhập Tổng cục Hậu cần và Tổng cục Kỹ thuật theo lộ trình, bảo đảm tinh, gọn, mạnh.Lãnh đạo Bộ Quốc phòng phát biểu tại hội nghị.

Phối hợp với Tổng cục Kỹ thuật tổ chức đánh giá rút kinh nghiệm sau một năm sáp nhập cơ quan hậu cần-kỹ thuật cấp chiến thuật, cả về tổ chức, biên chế, bố trí sắp xếp nhân sự; công tác chỉ huy, chỉ đạo, triển khai bảo đảm hậu cần, kỹ thuật; công tác giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng; hệ thống mẫu biểu văn kiện hậu cần-kỹ thuật ở các đơn vị, từ đó đề xuất các giải pháp giải quyết những vấn đề bất cập về tổ chức biên chế, bảo đảm phù hợp với tổ chức biên chế Quân đội.

Tham mưu xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác; chức trách, nhiệm vụ các chức danh của cơ quan hậu cần-kỹ thuật các cấp đến Tổng cục Hậu cần-Kỹ thuật phù hợp với tổ chức biên chế mới. Triển khai xây dựng Điều lệ công tác hậu cần-kỹ thuật, Điều lệ công tác Tham mưu hậu cần-kỹ thuật, hệ thống văn kiện hậu cần-kỹ thuật chiến lược…

Tiếp tục đánh giá tác động tình hình thế giới, khu vực và trong nước để tham mưu hoàn thiện phương thức bảo đảm vật chất hậu cần cho các nhiệm vụ, phù hợp với lộ trình xây dựng tổ chức lực lượng Quân đội và tổ chức lực lượng hậu cần-kỹ thuật, bảo đảm tốt hậu cần thường xuyên, giữ ổn định và nâng cao đời sống bộ đội.

Sáp nhập Tổng cục Hậu cần và Tổng cục Kỹ thuật theo lộ trình, bảo đảm tinh, gọn, mạnh.Các đại biểu đánh giá cao Tổng cục Hậu cần chủ động triển khai công tác bảo đảm hậu cần đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã ký Quyết định số 278, ngày 27/1/2021 điều chuyển nguyên trạng Trường Cao đẳng Quân y 2 thuộc Quân khu 7 về trực thuộc Tổng Cục Hậu cần và đổi tên Trường Cao đẳng Quân y 2 thành Trường Cao đẳng Hậu cần 2 theo Quyết định số 1501, ngày 10/12/2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh Xã hội.

Sáp nhập Tổng cục Hậu cần và Tổng cục Kỹ thuật theo lộ trình, bảo đảm tinh, gọn, mạnh. Trung tướng Trần Duy Giang, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần báo cáo tại hội nghị.Tổng Cục Hậu cần chỉ đạo tổ chức Lễ công bố quyết định đổi tên Trường Cao đẳng Quân y 2 thành Trường Cao đẳng Hậu cần 2. Thiếu tướng Nguyễn Văn Cường, Phó Chính ủy Tổng Cục Hậu cần dự và phát biểu chỉ đạo. Cùng dự có Thiếu tướng Võ Văn Thi, Phó Tư lệnh Quân khu 7.

Rà soát, phấn đấu cơ bản hoàn thành các chỉ tiêu về công tác hậu cần mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI xác định. Chỉ đạo đẩy nhanh triển khai thực hiện hiệu quả các đề án, dự án, chương trình ngành hậu cần theo lộ trình và điều chỉnh, bổ sung phù hợp tổ chức biên chế và yêu cầu nhiệm vụ bảo đảm hậu cần trong tình hình mới. Duy trì, thực hiện tốt phong trào thi đua “Ngành hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy”, gắn với Phong trào Thi đua Quyết thắng, các cuộc vận động.

Chủ động chuẩn bị chu đáo, bảo đảm tốt hậu cần cho các sự kiện trọng đại năm tuyen-sinh.vn  Trường Cao đẳng Quân y 2, Quân khu 7 thành lập ngày 30/8/1977, cho đến nay đã qua nhiều lần sáp nhập, đổi tên., nhất là kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ; 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và 35 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân; Triển lãm Quốc phòng quốc tế Việt Nam lần thứ hai…

Hiện nay, Trường tổ chức thành 4 phòng, 3 ban; 9 khoa và thành lập mới 2 tiểu đoàn quản lý học viên, có chức năng, nhiệm vụ tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nhân viên chuyên môn theo 3 trình độ: cao đẳng, trung cấp, sơ cấp chuyên ngành y, dược, điều dưỡng và hậu cần chung; tổ chức nghiên cứu ứng dụng, phát triển và chuyển giao kỹ thuật – công nghệ, nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo; xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong mọi tình huống.

Bộ trưởng Phan Văn Giang lưu ý, Đảng ủy, chỉ huy Tổng cục Hậu cần tiếp tục có nhiều giải pháp nâng cao chất lượng xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, “mẫu mực, tiêu biểu” gắn với xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng trong sạch vững mạnh tiêu biểu. Chuẩn bị tốt mọi mặt, làm tốt công tác tư tưởng, cán bộ, chính sách… thực hiện chặt chẽ quy trình rà soát, bổ sung quy hoạch, kiện toàn cán bộ chỉ huy, quản lý gắn với chuẩn bị nhân sự cho sáp nhập Tổng cục Hậu cần, Tổng cục Kỹ thuật và đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ mới.

Các nhóm ngành KỸ THUẬT MỎ, ĐỊA VẬT LÝ, TRẮC ĐỊA và KỸ THUẬT ĐỊA CHẤT

Ngành Kỹ thuật địa chất, địa vật lý và trắc địa là gì?. Kỹ thuật địa chất là ngành kỹ thuật ứng dụng khoa học địa chất để xác định các yếu tố địa chất ảnh hưởng đến thiết kế, thi công, vận hành các công trình kỹ thuật và duy trì các công trình này hoạt động tốt. Các nhà địa chất được đào tạo trong lĩnh vực này nghiên cứu và đưa ra các đề xuất, phân tích và thiết kế về địa chất và địa kỹ thuật liên quan đến sự phát triển của nhân loại.

* Nhóm ngành KỸ THUẬT ĐỊA CHẤT, ĐỊA VẬT LÝ và TRẮC ĐỊA gồm có các ngành:

Mã ngành Tên ngành
7520501 Kỹ thuật địa chất
7520502 Kỹ thuật địa vật lý
7520503 Kỹ thuật trắc địa – bản đồ

* Nhóm ngành KỸ THUẬT MỎ gồm có các ngành:

Mã ngành Tên ngành
7520601 Kỹ thuật mỏ
7520602 Kỹ thuật thăm dò và khảo sát
7520604 Kỹ thuật dầu khí
7520607 Kỹ thuật tuyển khoáng

* Dưới đây là danh sách các trường đại học có tuyển sinh và đào tạo một hoặc một số ngành trong các nhóm ngành trên:

Địa vật lý là một ngành của khoa học Trái Đất nghiên cứu về các quá trình vật lý và tính chất vật lý của Trái Đất và môi trường không gian xung quanh của nó. Khảo sát địa vật lý nghiên cứu một loạt các hiện tượng tự nhiên, bao gồm cả hình dạng, sự vận động trong lòng Trái Đất, và các quá trình trong thạch quyển, thủy quyển và khí quyển.

Trắc địa hay trắc đạc hay đo đạc là một ngành khoa học về Trái Đất, cụ thể là đo đạc và xử lý số liệu đo đạc địa hình và địa vật nằm trên bề mặt Trái Đất nhằm vẽ lên mặt phẳng giấy hay còn gọi là bản đồ. Trắc địa là đo đạc vị trí tọa độ và độ cao, hình dạng, kích thước, phương hướng của địa hình mặt đất và địa vật nằm trên mặt đất. Đây là ngành nghề có từ lâu đời tại các nước châu Âu, sản phẩm của ngành có đóng góp quan trọng và liên quan mật thiết đến nhiều lĩnh vực của xã hội đặc biệt trong lĩnh vực: lập Bản đồ địa hình quốc gia, nghiên cứu và quy hoạch, thiết kế, thi công các công trình, quản lý đất đai, quản lý tài nguyên khoáng sản, quản lý rừng, quản lý biến đổi khí hậu, quản lý giao thông, điện lực, viễn thông, thủy lợi…

Sinh viên ra trường có thể đảm nhận công tác kỹ thuật, quản lý tại các Tập Đoàn, Công ty, Trung tâm… tư vấn, khảo sát thiết kế, thi công, kiểm định các Công ty xây dựng ở trong và ngoài nước.

Nguồn: DANH MỤC GIÁO DỤC, ĐÀO TẠO CẤP IV TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC, Ban hành kèm theo Thông tư số 09/2022/TT-BGDĐT ngày 06 tháng 06 năm 2022 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Các chương trình đào tạo trình độ đại học tiếp nhận người đã tốt nghiệp trung học phổ thông; người đã tốt nghiệp trình độ trung cấp và đã học và thi đạt yêu cầu đủ khối lượng kiến thức văn hóa trung học phổ thông theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; người đã tốt nghiệp trình độ cao đẳng.

Chương trình đào tạo đại học có thời gian tương đương 3 đến 5 năm học tập trung đối với người tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc người đã tốt nghiệp trình độ trung cấp và đã học và thi đạt yêu cầu đủ khối lượng kiến thức văn hóa trung học phổ thông theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Người tốt nghiệp trình độ đại học có thể học tiếp lên thạc sĩ theo hướng chuyên môn phù hợp hoặc được nhận vào học các hướng chuyên môn khác nếu đáp ứng được điều kiện của chương trình đào tạo. Người tốt nghiệp trình độ đại học có kết quả học tập xuất sắc có thể được xét tuyển thẳng vào chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ đúng hướng chuyên môn ở trình độ đại học. >> Xem thêm: Khung Cơ cấu Hệ thống Giáo dục Quốc dân Việt Nam.

Bên trên là Danh sách mã số cấp 4 của các ngành nghề đào tạo trình độ Đại học ở Việt Nam. Bạn có thể dễ dàng tra cứu mã số mình cần. Ngoài ra, để dễ dàng tra cứu hơn bạn có thể tham khảo >> Danh mục Ngành nghề Việt Nam (đầy đủ các bậc đào tạo). Chúc bạn học tập thuận lợi!

Đại học có chính sách khen thưởng cho sinh viên nghiên cứu khoa học như giảng viên

Đề xuất xét cấp học bổng cho sinh viên hệ vừa làm vừa học, đào tạo từ xa giống như đối với SV chính quy là một cách hiệu quả để thúc đẩy động lực cho người học.Bộ Giáo dục và Đào tạo hiện đang lấy ý kiến cho dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 84/2020/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Giáo dục.

Một trong những nội dung sửa đổi, bổ sung đáng chú ý tại dự thảo là đưa ra 2 phương án về quy định về nguồn hình thành học bổng khuyến khích học tập đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học công lập (sửa đổi, bổ sung Điểm b, Khoản 4, Điều 8 Nghị định 84/2020/NĐ-CP). Cụ thể:

Phương án 1: Đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học, học bổng khuyến khích học tập được bố trí tối thiểu bằng 5% nguồn thu học phí (với trường công lập) và tối thiểu 2% nguồn thu học phí đối với trường tư thục.

Theo phương án này, dự thảo Nghị định không có sự phân biệt học sinh, sinh viên học chương trình chính quy với người học chương trình vừa làm vừa học, đào tạo từ xa.

Phương án 2: Đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học: Học bổng khuyến khích học tập được bố trí tối thiểu bằng 8% nguồn thu học phí hệ chính quy (với trường công lập) và tối thiểu 2% nguồn thu học phí đối với trường tư thục.

Dự thảo hiện đang nhận được nhiều sự quan tâm từ các cơ sở giáo dục đại học, nhiều ý kiến bày tỏ sự đồng tình và ủng hộ phương án 1 của dự thảo.Góp phần cân đối thu – chi trong bối cảnh mức trần học phí còn thấp

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hùng – Trưởng Phòng Chính trị và Công tác sinh viên, Học viện Chính sách và Phát triển đánh giá: Đề xuất giảm mức tối thiểu nguồn thu học phí cho học bổng khuyến khích học tập từ 8% (theo Nghị định số 84/2020/NĐ-CP) xuống 5% là phù hợp và thiết thực trong bối cảnh các cơ sở giáo dục đại học thực hiện lộ trình tự chủ đại học theo mục tiêu đã đề ra.

Đề xuất này giúp giảm tải áp lực cho các trường đại học công lập về việc cân đối thu – chi trong bối cảnh mức trần học phí còn thấp so với thực tế của chi phí đãi ngộ đội ngũ nhà giáo, nâng cao chất lượng đào tạo và chuyển đổi số thành đại học thông minh.

Việc giảm mức tối thiểu nguồn thu học phí dành cho học bổng khuyến khích học tập sẽ giúp các trường có thêm nguồn lực tài chính để thực hiện các hoạt động giáo dục, nghiên cứu và phát triển, đồng thời giảm bớt sự phụ thuộc vào nguồn thu học phí, đặc biệt trong bối cảnh mức học phí vẫn còn bị giới hạn so với thực tế chi phí cần thiết để duy trì và nâng cao chất lượng đào tạo.

Bên cạnh đó, nhu cầu thực tế đặt ra ở đây là làm thế nào để các trường đại học vừa có nguồn lực tài chính đầu tư cho phát triển, vừa hỗ trợ và kích thích được người học thi đua, phấn đấu trong học tập. Đây là giải pháp tình huống vì cách thức giảm chi mức học bổng khuyến khích học tập đối với người học để tăng nguồn lực cho nhà trường, trong khi quy mô tài chính còn hạn chế, không tăng từ các nguồn thu khác. Thông qua việc trích phần trăm quỹ học bổng khuyến khích học tập, tăng chất lượng suất học bổng khuyến khích học tập, điều này sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, tạo động lực để người học cố gắng nỗ lực.

Nhà giáo trẻ tiêu biểu TP.HCM nỗ lực ‘truyền lửa’ đam mê nghiên cứu công nghệ,Cùng chia sẻ về vấn đề này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Dương Ngọc Toàn – Trưởng Phòng Công tác sinh viên, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Thái Nguyên cho biết, nhà trường ủng hộ và đồng tình với các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Đối với Trường Đại học Sư phạm, Đại học Thái Nguyên, từ trước đến nay vẫn luôn áp dụng quy định về học bổng theo Nghị định 84/2020/NĐ-CP. Việc xây dựng quy định học bổng khuyến khích học tập được thực hiện một cách cân đối, nghiêm túc, đầy đủ, trích khoảng 8% tổng nguồn thu.

Mặt khác, ngoài học bổng khuyến khích học tập từ học phí, các trường còn có nguồn học bổng khác cho sinh viên như từ doanh nghiệp, cựu sinh viên,… Đối với các sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, nhà trường cũng có học bổng để hỗ trợ các em thuộc diện này.

Trưởng Phòng Công tác sinh viên, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Thái Nguyên cũng nhấn mạnh: Nguồn học bổng khuyến khích học tập sẽ tạo động lực cho học viên, sinh viên phấn đấu hơn trong học tập, nghiên cứu, tạo sự cạnh tranh lành mạnh, nâng cao chất lượng giáo dục, và giảm bớt gánh nặng tài chính cho những sinh viên có thành tích học tập tốt nhưng gặp khó khăn về vấn đề tiền bạc.

Có thể thấy, học bổng là một phần vô cùng quan trọng trong chính sách của trường, nó có thể góp phần nâng cao uy tín của cơ sở giáo dục, thu hút được nhiều người học xuất sắc, từ đó góp phần nâng cao chất lượng đào tạo.Nên ưu tiên chi học bổng từ ngân sách Nhà nước cho các ngành khó tuyển sinh

Theo phương án 1, dự thảo Nghị định không có sự phân biệt sinh viên học chương trình chính quy với người học chương trình vừa làm vừa học, đào tạo từ xa. Theo Nghị định 84, học bổng được bố trí dựa trên tỷ lệ phần trăm từ tổng nguồn thu học phí của sinh viên các hệ đào tạo (chính quy, từ xa, vừa làm vừa học) nhưng đối tượng thụ hưởng học bổng chỉ có sinh viên chính quy.

Bàn luận về vấn đề này, Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hùng nhận định, đây là đề xuất tốt và phù hợp, có thể tạo công bằng cho mọi đối tượng người học ở các trình độ và hình thức đào tạo khác nhau. Đề xuất sinh viên học hệ vừa làm vừa học, đào tạo từ xa cũng được xét, cấp học bổng như sinh viên chính quy cũng là một cách để thúc đẩy tinh thần học tập. Từ đó, chúng ta cần xem xét, cân đối và tính toán một cách kỹ lưỡng để giảm tải gánh nặng tài chính cho hầu hết các trường khi nguồn thu chủ yếu từ học phí.

Trưởng Phòng Chính trị và Công tác sinh viên, Học viện Chính sách và Phát triển cũng đề xuất, việc ưu tiên chi học bổng từ ngân sách Nhà nước cho các ngành mới, ngành khó tuyển sinh để không khu biệt, dàn trải là điều hoàn toàn phù hợp trong bối cảnh tự chủ đại học còn bộc lộ nhiều bất cập so với yêu cầu của thực tiễn hiện nay.

Học bổng sẽ khuyến khích nhiều người giỏi tham gia học tập và nghiên cứu. Còn theo lãnh đạo của một trường đại học ở phía Nam, đề xuất xét cấp học bổng cho sinh viên hệ vừa làm vừa học và đào tạo từ xa giống như đối với sinh viên chính quy là một cách hiệu quả để thúc đẩy động lực cho người học cống hiến và phát huy khả năng học tập, nghiên cứu, sáng tạo, phát triển nghề nghiệp của mình.

Hơn nữa, cũng nên ưu tiên chi học bổng từ nguồn ngân sách Nhà nước cho các ngành mới, ngành đặc thù, ngành khó tuyển sinh cũng góp phần nâng cao chất lượng đào tạo đại học nói riêng, giúp tăng tính công bằng trong hệ thống giáo dục nói chung. Đây cũng là một cách thức nhằm khuyến khích các cơ sở giáo dục nâng cao chất lượng giảng dạy, xây dựng chương trình học linh hoạt, hỗ trợ tốt hơn cho các sinh viên, học viên.

Tuy nhiên, quy trình đánh giá xét học bổng cho các hệ đào tạo khác nhau cần đảm bảo tính công bằng, minh bạch và khách quan trong việc lựa chọn đối tượng nhận học bổng. Nếu lấy quy chế xét tặng học bổng khuyến khích học tập với sinh viên chính quy để áp dụng cho sinh viên hệ đào tạo từ xa, vừa làm vừa học sẽ chưa thực chất bởi hoàn cảnh và tính chất học tập của hai hệ này khác nhau.

Đối với hệ đào tạo chính quy, công tác đánh giá xét học bổng khuyến khích học tập có phần dễ dàng và thuận lợi hơn, vì sinh viên hệ chính quy thường học toàn thời gian tại trường, có thể tham gia trực tiếp các hoạt động nghiên cứu, thi cử và trao đổi với giảng viên.

Trong khi đó, sinh viên hệ đào tạo từ xa và vừa làm vừa học lại có lịch học linh hoạt hơn, phần lớn thời gian học tập diễn ra ngoài lớp học chính thức, chủ yếu qua các phương tiện điện tử, học online và tự học. Vì vậy, nếu áp dụng quy chế xét học bổng của sinh viên chính quy cho nhóm sinh viên này, sẽ có thể chưa phản ánh đúng những khó khăn, nỗ lực và sự khác biệt trong quá trình học tập của họ.

Do đó, chúng ta cần phải xây dựng một quy chế xét học bổng riêng biệt hoặc có sự điều chỉnh hợp lý để đảm bảo công bằng, khuyến khích và động viên đúng mức cho các học viên, sinh viên của các hệ đào tạo khác nhau, thông qua các hình thức kiểm tra, bài tập, dự án nghiên cứu hay những tiêu chí đánh giá phù hợp.