Khoa học liên ngành & Nghệ thuật thuộc ĐHQGHN

Tên trường: Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật – Đại học Quốc gia Hà Nội

Tên tiếng Anh: Vietnam National University, Hanoi- School of Interdisciplinary Science and Arts (VNU-SIS)

Mã trường: QHK

Loại trường: Công lập

Hệ đào tạo: Đại học – Sau đại học – Liên kết quốc tế

Danh sách các nhóm ngành đào tạo trình độ đại học

Danh sách các ngành nghề đào tạo cấp IV trình độ Đại học

Danh mục giáo dục đào tạo cấp IV trình độ Thạc sĩ (Cao học)

Danh mục giáo dục đào tạo cấp IV trình độ Tiến sĩ (Tiến sĩ khoa học)

– Trụ sở: Nhà G7, Đại học Quốc gia Hà Nội, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy Hà Nội

– Cơ sở Mỹ Đình: Ngõ 6 phố Trần Hữu Dực, Mỹ Đình 1, Nam Từ Liêm, Hà Nội

– Cơ sở Hòa Lạc: Tòa nhà HT1, Đại học Quốc gia Hà Nội tại Hòa Lạc

– Cơ sở Nghĩa Đô: Khu đô thị mới Nghĩa Đô, Phường Cổ Nhuế 1, Quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội

Địa chỉ trang thông tin điện tử của đơn vị Website 1: https://sis.vnu.edu.vn Website 2: https://sisvnu.edu.vn

 Địa chỉ các trang mạng xã hội của đơn vị Page 1: Trường Khoa học liên ngành & Nghệ thuật – Đại học Quốc gia Hà Nội https://www.facebook.com/sis.vnu.edu.vn

Page 2: Tuyển sinh Trường KH liên ngành & Nghệ thuật https://www.facebook.com/tuyensinhvnusis

Số điện thoại, email liên hệ tuyển sinh Điện thoại: 0243 754 7615 – 0243 754 7619 Hotline: 098 129 0448

Email: tuyensinhliennganh@vnu.edu.vn – truongliennganh@gmail.com

Khoa Các khoa học liên ngành được thành lập vào ngày 20/5/2002 theo Quyết định số 342/TCCB ngày 20/05/2002 của Giám đốc ĐHQGHN với tên gọi “Khoa Sau đại học” và được đổi tên thành “Khoa Các khoa học liên ngành” theo Quyết định số 248/QĐ-ĐHQGHN ngày 20/1/2017 của Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội.

Khoa Các khoa học liên ngành là đơn vị trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội (VNU-SIS), có chức năng, nhiệm vụ chính là đơn vị đầu mối phát triển và tổ chức thực hiện các chương trình đào tạo mới, có tính liên ngành, sáng tạo và nghệ thuật hướng tới các chương trình có tính khoa học và ứng dụng thực tiễn, đáp ứng nhu cầu xã hội.

Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội đã ký Quyết định số 333/QĐ-ĐHQGHN về việc chuyển đổi mô hình và tổ chức lại Khoa Các khoa học liên ngành thành Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật, kể từ ngày 1.3.

Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật là đơn vị đào tạo, nghiên cứu khoa học; tự đảm bảo chi thường xuyên, có con dấu và tài khoản riêng để giao dịch; được tổ chức và hoạt động theo các quy định của pháp luật có liên quan, Nghị định của Chính phủ về Đại học Quốc gia, Quy chế tổ chức và hoạt động của Đại học Quốc gia và các cơ sở giáo dục đại học thành viên do Thủ tướng Chính phủ ban hành và Quy định về tổ chức và hoạt động của Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật do Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) ban hành.

Với sứ mệnh đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao theo định hướng liên ngành, liên lĩnh vực, đặc biệt tiên phong trong phát triển các lĩnh vực công nghiệp văn hóa, sáng tạo và nghệ thuật; Thực hiện vai trò nghiên cứu, chuyển giao tri thức và tư vấn chính sách… tạo nền tảng đóng góp vào sự nghiệp xây dựng, phát triển, bảo vệ đất nước và hội nhập quốc tế.

Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật trực thuộc ĐHQGHN, đáp ứng mục tiêu xây dựng và phát triển một cơ sở đào tạo, nghiên cứu liên ngành và nghệ thuật tại ĐHQGHN; kế thừa truyền thống từ ĐH Đông Dương đồng thời mở ra thêm một định hướng phát triển mới trong bối cảnh kinh tế sáng tạo ngày càng có ảnh hưởng trong xã hội Việt Nam.

Với định hướng phát triển chuyên môn chủ yếu là các lĩnh vực khoa học liên ngành và nghệ thuật, việc chuyển đổi mô hình của Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật là một trong những bước đi mang tính đột phá của ĐHQGHN.Sự kết hợp giữa nền tảng và kinh nghiệm truyền thống cùng với sức sáng tạo, tiên phong sẽ góp phần đảm bảo sự phát triển vững chắc của Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật ngay sau khi được thành lập.

Đại học Kinh tế Quốc dân (NEU)

Tên trường: Đại học Kinh tế Quốc dân

Tên tiếng Anh: National Economics University (NEU)

Mã trường: KHA

Loại trường: Công lập

Hệ đào tạo: Đại học – Sau đại học – Văn bằng 2 – Liên thông – Tại chức – Đào tạo từ xa – Liên kết quốc tế

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO CỦA MỘT SỐ NGHỀ TRÌNH ĐỘ SƠ CẤP

Danh mục ngành, nghề đào tạo cấp IV trình độ Sơ trung cấp chính quy

Danh mục ngành, nghề đào tạo cấp IV trình độ trung cấp chính quy

Danh mục ngành, nghề đào tạo cấp IV trình độ cao đẳng chính quy

Danh sách các nhóm ngành đào tạo trình độ đại học

Danh sách các ngành nghề đào tạo cấp IV trình độ Đại học

Danh mục giáo dục đào tạo cấp IV trình độ Thạc sĩ (Cao học)

Danh mục giáo dục đào tạo cấp IV trình độ Tiến sĩ (Tiến sĩ khoa học)

Địa chỉ: 207 Giải Phóng, Đồng Tâm, Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội

SĐT: (84) 024.36.280.280 – (84) 24.38.695.992

Email: cnttkt@neu.edu.vn

Website: https://www.neu.edu.vn/

Facebook: www.facebook.com/ktqdNEU/

THẦN THỨ NHẤT: SỨ MẠNG, TẦM NHÌN VÀ GIÁ TRỊ CỐT LÕI Sứ mệnh National Economics University (NEU)- Tiên phong trong đổi mới, phát triển và phổ biến tri thức về kinh tế, quản lý và quản trị kinh doanh; thu hút và đào tạo nhân tài; cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, phụng sự sự nghiệp phát triển bền vững của đất nước.

– Đào tạo ra các nhà lãnh đạo và những doanh nhân hàng đầu của Việt Nam.

– Trung tâm nghiên cứu xuất sắc, đề xuất xây dựng đường lối, chính sách phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và tư vấn giải pháp cho các địa phương, tổ chức, doanh nghiệp.

Tầm nhìn National Economics University (NEU) Ngày 15/11,Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1386 về việc chuyển Trường Đại học Kinh tế Quốc dân thành Đại học Kinh tế Quốc dân.

– Đại học theo định hướng nghiên cứu, đa ngành, đa lĩnh vực, thuộc nhóm 5 đại học hàng đầu của Việt Nam.

– Top 100 trường đại học tốt nhất châu Á trong lĩnh vực kinh tế, quản lý và quản trị kinh doanh theo chuẩn mực xếp hạng quốc tế.

Giá trị cốt lõi National Economics University (NEU) 

– Sáng tạo. Xây dựng môi trường học tập và nghiên cứu thân thiện, đảm bảo cho viên chức, người lao động, sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh được tự do sáng tạo, phát triển tư duy; tôn trọng ý kiến phản biện khách quan, có cơ sở khoa học; giữ vững và phát huy vai trò đi đầu trong đổi mới và sáng tạo, tạo dựng bản sắc riêng.

– Đoàn kết. Tập thể sư phạm Trường là một khối thống nhất, đồng tâm nhất trí vì sự phát triển; sẵn sàng hợp tác, chia sẻ nguồn lực, hỗ trợ và giúp đỡ lẫn nhau để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Mạng lưới cựu sinh viên, học viên và các đối tác luôn là một phần gắn bó chặt chẽ của Trường.

– Liêm chính. Tôn trọng sự trung thực, công bằng, minh bạch trong tất cả các hoạt động đào tạo, nghiên cứu và quản trị đại học; công khai, thực hiện nghiêm túc những cam kết đối với người học, viên chức, người lao động, cộng đồng và xã hội.Trong kế hoạch 5 năm tới, Trường ĐH Kinh tế Quốc dân có định hướng trở thành Đại học. Trong cơ cấu sẽ có ít nhất 3 trường thành viên là Trường Kinh tế, Trường Kinh doanh và Trường Khoa học công nghệ.

– Hiệu quả. Hướng tới nâng cao chất lượng, hiệu quả tối ưu nhằm đảm bảo sử dụng tốt nhất và bền vững các nguồn lực; tầm nhìn dài hạn được chú trọng để đảm bảo sự phát triển liên tục.

– Trách nhiệm. Suy nghĩ và hành động với tinh thần trách nhiệm cao, hết mình vì sự nghiệp chung; lợi ích của mỗi cá nhân gắn liền với sự phát triển của Trường.

Triết lý giáo dục National Economics University (NEU)– Kiến tạo con đường thông minh để mỗi người trở thành phiên bản tốt nhất của chính mình, mang lại giá trị cho cộng đồng.

 Định vị Trường Đại học Kinh tế Quốc dân: Trường Đại học Kinh tế Quốc dân là một trong các trường đại học hàng đầu của Việt Nam và đang có vị trí thuận lợi để phát triển.

PHẦN THỨ HAI: MỤC TIÊU VÀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN

Mục tiêu tổng quát  National Economics University (NEU) Đến năm 2030, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân trở thành đại học tự chủ, đi tiên phong trong chuyển đổi số, có hệ thống quản trị hiện đại, thông minh và chuyên nghiệp đạt chuẩn kiểm định quốc tế. Trường là trung tâm thu hút đào tạo và bồi dưỡng nhân tài, địa điểm làm việc của những chuyên gia hàng đầu trong đào tạo và nghiên cứu về kinh tế, quản lý và quản trị kinh doanh, là lựa chọn ưu tiên cao nhất của các học sinh xuất sắc có hoài bão và tâm huyết để đóng góp cho sự phát triển của cộng đồng và xã hội.

 Chiến lược tổ chức bộ máy National Economics University (NEU) Trong số 3 trường được thành lập, Trường Kinh tế và Quản lý công, Trường Kinh doanh thuộc lĩnh vực đào tạo truyền thống, thế mạnh của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

– Trường Đại học Kinh tế Quốc dân sẽ xây dựng và chuyển đổi mô hình tổ chức thành đại học với 3 cấp, bao gồm: (1). Đại học; (2). Các trường thành viên, các viện/trung tâm nghiên cứu; (3). Các Khoa/ Bộ môn hoặc đơn vị chuyên môn. Bên cạnh các đơn vị này là hệ thống các đơn vị chức năng, dịch vụ, hỗ trợ công tác đào tạo.

– Hệ thống các Trường thành viên dự kiến bao gồm: Trường Kinh doanh, Trường Kinh tế, Trường Khoa học và Công nghệ và một số các trường khác (theo điều kiện và lộ trình phát triển).

– Tăng cường tự chủ cho các đơn vị trong trường là chủ trương xuyên suốt trong mô hình tổ chức của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Bên cạnh tự chủ về học thuật, các đơn vị cũng sẽ được phân cấp quản lý tài chính.

 Chiến lược đào tạo National Economics University (NEU)- Trường Đại học Kinh tế Quốc dân tập trung phát triển các chương trình giáo dục đại học đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao nhất cả nước về kinh tế, quản lý và quản trị kinh doanh. Trường tiếp tục thu hút những sinh viên, học viên xuất sắc, có hoài bão và tâm huyết thay đổi cộng đồng và xã hội, đảm bảo tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm và mức thu nhập cao hàng đầu trong các trường đại học của Việt Nam, kết nối chặt chẽ giữa sinh viên với cựu sinh viên các thế hệ, xây dựng cộng đồng Đại học Kinh tế Quốc dân có truyền thống vẻ vang và tự hào.

– Trường chú trọng nâng cao chất lượng đào tạo theo hướng tăng cường hội nhập và gắn kết với thực tiễn. Trường Đại học Kinh tế Quốc dân thực hiện đổi mới toàn diện chương trình đào tạo, tăng cường đào tạo bằng tiếng Anh, chuẩn hóa và cung cấp đầy đủ hệ thống học liệu tiên tiến nhất cho người học, thực hiện kiểm định quốc tế các chương trình đào tạo, tăng hàm lượng thực tiễn trong quá trình đào tạo thông qua việc xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên kiêm giảng từ các tổ chức, doanh nghiệp bên ngoài, nâng cao hiệu quả của các bài tập tình huống, các chuyến tham quan thực tế, các kỳ thực tập, tiên phong trong việc mở các ngành đào tạo và đưa vào chương trình đào tạo các môn học mới đáp ứng nhu cầu xã hội.

– Từng bước mở rộng sang các lĩnh vực và ngành đào tạo mới, liên ngành, xuyên ngành. Trường Đại học Kinh tế Quốc dân sẽ phát triển mạnh ngành công nghệ thông tin, tập trung vào định hướng chuyển đổi số, ứng dụng dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo trong quản lý, kinh tế và quản trị kinh doanh, tạo nền móng trở thành trung tâm đào tạo và nghiên cứu hàng đầu trong lĩnh vực này. Trường sẽ thúc đẩy nhanh chóng việc giảng dạy các nội dung về công nghệ, kỹ thuật trong các ngành tài chính, du lịch và môi trường để tiến tới đào tạo toàn diện các ngành kinh tế này. 

– Đổi mới mạnh mẽ công nghệ và phương thức đào tạo theo hướng tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy trên quan điểm lấy người học làm trung tâm. Phương thức đào tạo chủ yếu của Trường sẽ là phương thức kết hợp, bảo đảm người học có quyền lựa chọn cao nhất đối với các chương trình và nội dung đào tạo. Trường Đại học Kinh tế Quốc dân sẽ nhanh chóng tiến tới thống nhất một chuẩn mực chất lượng không phân biệt các hình thức đào tạo, phấn đấu có tỷ lệ sinh viên/ giảng viên vào loại thấp nhất trong các trường đại học, thực hiện công nhận văn bằng, tín chỉ, liên thông với các trường đại học trong khu vực và trên thế giới.

– Xây dựng mạng lưới liên kết rộng rãi với cộng đồng doanh nghiệp và các tổ chức thực tiễn. Trường hợp tác toàn diện với các doanh nghiệp lớn trong hầu hết các mặt hoạt động, từ đào tạo, bồi dưỡng, tuyển dụng, kiến tập, thực tập tiếp tục mở rộng tới các hoạt động truyền thông, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ. Trường nghiên cứu và triển khai áp dụng mô hình hợp tác hiệu quả với các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

– Xây dựng cơ cấu hợp lý giữa các trình độ đào tạo. Đào tạo bậc đại học là nền tảng của Trường với số lượng lớn nhất. Đào tạo bậc thạc sĩ mang tính tiên phong (phản ứng nhanh với nhu cầu của thực tiễn kinh tế xã hội) hướng tới đội ngũ cán bộ quản lý trong các tổ chức, doanh nghiệp. Đào tạo bậc tiến sĩ mang tính chất tinh hoa sẽ hướng tới việc phát triển một đội ngũ các nhà khoa học cho các trường đại học, các viện nghiên cứu. Tỷ lệ giữa các bậc đào tạo (Tiến sĩ/ Thạc sĩ/ Cử nhân) dự kiến sẽ xoay quanh 1/20/100.

– Đẩy mạnh thu hút sinh viên quốc tế. Trước hết tập trung vào trao đổi sinh viên với các trường đại học trong khu vực và các trường đã có quan hệ hợp tác truyền thống. Tiếp tục phát triển số lượng du học sinh Lào và Campuchia đồng thời thu hút các sinh viên quốc tế từ các quốc gia khác trong khu vực theo học các chương trình tiên tiến và các chương trình đào tạo bằng tiếng Anh của Trường.

 Chiến lược khoa học công nghệ National Economics University (NEU)- Trường Đại học Kinh tế Quốc dân đi tiên phong trong việc nghiên cứu triển khai chuyển đổi số trong quản trị tại các doanh nghiệp và các tổ chức khác nhằm giữ vững và phát huy vị thế của một trung tâm nghiên cứu hàng đầu của đất nước trong lĩnh vực kinh tế, quản lý và quản trị kinh doanh dựa trên những nền tảng của các công nghệ mới. Trường trở thành Trung tâm nghiên cứu xử lý dữ liệu lớn (big data) và áp dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để mô phỏng, đánh giá tác động, hiệu quả của các chính sách phát triển kinh tế xã hội của đất nước, các quyết định chiến lược của các doanh nghiệp lớn.

– Tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu, tư vấn chính sách kinh tế và quản trị doanh nghiệp tại Việt Nam. Đảm bảo số lượng và doanh thu từ đề tài các cấp, các hợp đồng tư vấn cho Nhà nước, các địa phương và các tổ chức, doanh nghiệp là lớn nhất trong các trường đại học kinh tế. Có ý kiến kịp thời về các vấn đề trọng yếu trong phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

– Ưu tiên nguồn lực để đưa tạp chí Kinh tế và Phát triển (bản tiếng Anh) vào hệ thống Scopus, khuyến khích và đầu tư cho các công trình công bố quốc tế trên các tạp chí thuộc danh mục ISI và Scopus. Nâng cao vị thế khoa học trên phạm vi quốc tế thông qua việc có số công trình khoa học công bố trên một giảng viên cao nhất trong số các trường đại học kinh tế và tiệm cận với các trường đại học lớn trong khu vực…

– Xây dựng cơ chế chính sách khuyến khích NCKH, tăng cường đầu tư cho nghiên cứu. Đảm bảo các viên chức, người lao động của trường có đủ nguồn lực (tài chính, cơ sở vật chất và thời gian) để thực hiện các hoạt động nghiên cứu. Đa dạng hóa các nguồn lực cho nghiên cứu khoa học. Nghiên cứu khoa học phải trở thành sự đam mê và ưu tiên hàng đầu đối với đội ngũ viên chức, người lao động.

– Phát triển những nhóm nghiên cứu mạnh với hạt nhân là các chuyên gia nghiên cứu hàng đầu, có khả năng dẫn dắt các xu hướng nghiên cứu mới. Có sự kế thừa và tiếp nối chặt chẽ giữa các thế hệ viên chức, người lao động. Từng bước hình thành đội ngũ chuyên gia có đủ năng lực phản ứng trước những vấn đề quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của đất nước cũng như đi đầu trong các hướng nghiên cứu khoa học mới.

– Tăng cường gắn kết nghiên cứu với đào tạo và thực tiễn. Có cơ chế khuyến khích đưa các kết quả nghiên cứu vào giảng dạy một cách nhanh chóng. Ưu tiên thực hiện các nghiên cứu theo đặt hàng của các cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp và các tổ chức. Tăng cường phát triển hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học.

 Một số phương hướng chiến lược khác National Economics University (NEU)- Phát triển sản phẩm chiến lược của một số lĩnh vực, ngành đào tạo. Sản phẩm chiến lược có thể là chương trình đào tạo xuất sắc, công trình nghiên cứu (sách, bài báo), phần mềm, tiêu chuẩn (chuẩn mực)/ sách hướng dẫn … có tầm ảnh hưởng rộng lớn và tác động sâu sắc tới cộng đồng và xã hội. Trường Đại học Kinh tế Quốc dân sẽ tập trung xây dựng và phát triển 1- 3 sản phẩm chiến lược trong giai đoạn từ nay đến năm 2030.

– Thực hiện kiểm định và xếp hạng quốc tế. Lựa chọn và tiến hành kiểm định Trường và các chương trình đào tạo theo tiêu chuẩn quốc tế. Xây dựng lộ trình để nâng cao vị trí xếp hạng trên một hệ thống xếp hạng quốc tế có uy tín. Tăng cường sự thừa nhận và liên thông với các trường đại học quốc tế.

– Xây dựng Trường Đại học Kinh tế Quốc dân trở thành một trong những trung tâm khởi nghiệp lớn nhất của cả nước, không chỉ cung cấp các dịch vụ tư vấn, hỗ trợ tiếp cận nguồn vốn đầu tư mà còn cung cấp cơ sở vật chất dưới hình thức các vườn ươm doanh nghiệp cho các doanh nghiệp khởi nghiệp. Tạo dựng môi trường thuận lợi nuôi dưỡng các ý tưởng kinh doanh và các doanh nhân trẻ.

– Từng bước đưa Trường Đại học Kinh tế Quốc dân thành trường đại học thông minh đầu tiên của Việt Nam. Trường kết hợp chặt chẽ với các đối tác hàng đầu để phát triển và hoàn thiện mô hình trường đại học thông minh, dựa trên nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin. Phát triển và khai thác có hiệu quả cơ sở dữ liệu dùng chung cho mọi mặt hoạt động của Trường, đảm bảo hiệu quả và linh hoạt trong hoạt động của toàn hệ thống.   

– Tăng cường các hoạt động truyền thông nhằm xây dựng hình ảnh về Trường Đại học Kinh tế Quốc dân như một sự lựa chọn tốt nhất cho học tập và làm việc. Khai thác hiệu quả các giá trị truyền thống và mạng lưới cựu sinh viên của Trường. Các hoạt động truyền thông phải gắn kết chặt chẽ với các sự kiện, thành tích trong các hoạt động đào tạo, nghiên cứu và tư vấn.

PHẦN THỨ BA: GIẢI PHÁP VÀ LỘ TRÌNH THỰC HIỆN

Phát triển nguồn nhân lực National Economics University (NEU)

– Thu hút, xây dựng và phát triển đội ngũ viên chức, người lao động có năng lực nghiên cứu và tư vấn hàng đầu. Có chính sách ưu đãi đặc biệt đối với các nhà khoa học có uy tín, các viên chức, người lao động có bằng tiến sĩ tại các nước phát triển, có công bố quốc tế. Cấp kinh phí nghiên cứu hàng năm cho các nhà khoa học đầu ngành. Xây dựng cơ chế tài chính phù hợp, tạo sức thu hút và động lực làm việc sáng tạo của đội ngũ viên chức, người lao động. Tăng cường liên kết, thu hút viên chức, người lao động từ các cơ quan quản lý, các doanh nghiệp.

– Quốc tế hóa đội ngũ viên chức, người lao động, tăng cường tỷ trọng giảng viên quốc tế, tăng số lượng giảng viên có trình độ tiến sĩ được đào tạo ở nước ngoài, có khả năng giảng dạy bằng tiếng Anh và có công bố quốc tế. Thúc đẩy và có chính sách hỗ trợ việc trao đổi giảng viên với các trường đại học trong khu vực và trên thế giới. Có những chính sách đột phá trong việc thu hút viên chức, người lao động có trình độ quốc tế đến làm việc tại Trường.

– Tăng cường kiến thức thực tiễn của đội ngũ giảng viên. Triển khai thực hiện chế độ mỗi 5 năm, giảng viên sẽ được nghỉ giảng 6 tháng hoặc một năm để nghiên cứu và thâm nhập thực tiễn hoặc đi trao đổi nghiên cứu, giảng dạy ở các nước phát triển. Tăng cường khả năng tư vấn của đội ngũ giảng viên thông qua các hoạt động phối kết hợp với các đơn vị thực tiễn.

– Chuẩn hóa năng lực các vị trí chức danh theo hướng hội nhập, chuyên nghiệp, làm cơ sở cho công tác tuyển dụng, đào tạo và bổ nhiệm. Phấn đấu tỷ lệ tiến sĩ của đội ngũ giảng viên đạt 80%. Tăng tính chuyên nghiệp và văn hóa phục vụ của đội ngũ viên chức hành chính.

– Chú trọng đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ viên chức, người lao động trẻ để Trường Đại học Kinh tế Quốc dân trở thành nguồn cung cấp nhân lực lãnh đạo, quản lý cao cấp cho các cơ quan quản lý, các doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo, nghiên cứu. Tạo điều kiện thuận lợi cho viên chức, người lao động Trường Đại học Kinh tế Quốc dân phát triển thành lãnh đạo tại các đơn vị bên ngoài Trường.

 Nâng cao năng lực tài chính- Tích cực mở rộng và đa dạng hóa nguồn thu. Từng bước tiến tới đồng bộ mức học phí giữa các hệ đào tạo chính quy, phi chính quy và chất lượng cao. Tăng cường nguồn thu từ các hoạt động dịch vụ, liên kết đào tạo và khai thác cơ sở vật chất. Chú trọng khai thác các nguồn tài trợ, đặc biệt trong việc đặt tên các nhà tài trợ cho các phòng học, phòng hội thảo, các địa điểm trong toàn trường. Tận dụng các nguồn ngân sách thông qua các nhiệm vụ đấu thầu cạnh tranh.

– Cơ chế quản lý tài chính minh bạch công khai. Đảm bảo việc phân bổ thu chi công khai, công bằng giữa các đơn vị trong toàn trường. Thực hiện phân phối cho viên chức, người lao động theo kết quả hoạt động. Trở thành trường có cơ chế quản lý tài chính minh bạch hàng đầu tại Việt Nam.

– Từng bước tăng cường cơ chế tự chủ tài chính cho các đơn vị theo mô hình phát triển của Trường. Đảm bảo cho các đơn vị có đủ nguồn lực để phát huy tính sáng tạo, chủ động thực hiện chiến lược phát triển chung của Trường.

– Thực thiện cải cách tiền lương và các giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao thu nhập cho đội ngũ viên chức, người lao động với mức tăng trung bình 10%/ năm. Đảm bảo thu nhập của viên chức, người lao động Trường Đại học Kinh tế Quốc dân thuộc vào nhóm 05 trường đại học có mức thu nhập cao nhất Việt Nam.

– Chuẩn bị các nguồn lực tài chính để thực hiện chiến lược. Áp dụng các biện pháp quản lý để đảm bảo chi tiêu có hiệu quả và sự bền vững về tài chính của Trường. Bên cạnh các nguồn thu của Trường, cần chủ động tìm kiếm các nguồn lực tài chính khác như đầu tư từ Chính phủ, vốn vay ưu đãi từ các ngân hàng, nguồn tài trợ từ các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân.

Tăng cường cơ sở vật chất National Economics University (NEU) – Xây dựng, xin phê duyệt và triển khai thực hiện “Dự án Phát triển Trường Đại học Kinh tế Quốc dân thành Đại học hàng đầu về đổi mới sáng tạo trong giảng dạy, nghiên cứu và khởi nghiệp” vay vốn của Ngân hàng Thế giới (World Bank, WB) với tổng vốn đầu tư là 110 triệu USD, thời gian thực hiện trong vòng 5 năm 2022 – 2026.

– Từng bước thực hiện phương án mặt bằng phát triển tổng thể Trường đến năm 2050 tại khu vực 207 Đường Giải Phóng. Bên cạnh hệ thống giảng đường và văn phòng, chú trọng phát triển hệ thống ký túc xá mới, khách sạn trường, trung tâm khởi nghiệp, nhà thi đấu thể thao, trung tâm y tế và các cơ sở phục vụ giảng dạy và học tập …

– Tiếp tục đầu tư chiều sâu để nâng cao hơn nữa năng lực giảng dạy, nghiên cứu, tư vấn và quản lý của Trường. Tập trung đầu tư vào hệ thống công nghệ thông tin phục vụ giảng dạy và quản trị đại học theo hướng Đại học thông minh. Tăng cường đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở vật chất cần thiết (cơ sở hạ tầng, văn phòng làm việc) để trở thành trung tâm khởi nghiệp sáng tạo lớn của đất nước.

– Xây dựng cơ sở 2 hướng tới tiền đề mở rộng các ngành/ lĩnh vực đào tạo các ngành liên quan đến công nghệ cũng như tiếp cận tốt hơn đến thị trường đào tạo.

Hoàn thiện hệ thống quản trị National Economics University (NEU)- Hoàn thiện và đưa vào áp dụng đề án vị trí việc làm làm cơ sở cho chính sách trả lương, thưởng và khuyến khích động lực làm việc. Đây là một trong những nền tảng cơ sở cho việc đổi mới cơ chế quản lý và hoạt động quản trị của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Đề án này cần được thường xuyên đánh giá, cập nhật cho phù hợp với những thay đổi trong môi trường hoạt động của Trường.

– Chuẩn hoá hệ thống văn bản quản lý và quy trình làm việc trong các lĩnh vực, tổ chức và đơn vị trong toàn trường theo hướng chuyên nghiệp. Từng bước nâng cao tốc độ thực hiện công việc đi đôi với công khai minh bạch. Đảm bảo môi trường học tập và làm việc tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân mang tính chuẩn mực và trong sạch.

– Tăng cường giám sát, đánh giá mọi mặt hoạt động của Trường nhằm đảm bảo sự minh bạch, liêm chính và hiệu quả. Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng trường, Công đoàn và các tổ chức chính trị xã hội khác. Xây dựng cơ chế đánh giá chất lượng phục vụ của các đơn vị trong trường.

– Gắn kết hoạt động của Trường với các tổ chức thực tiễn. Trường cần trở thành tiêu điểm gắn kết với xã hội đảm bảo tận dụng các nguồn lực một cách có hiệu quả, nâng cao đóng góp của Trường đối với xã hội. Đảm bảo sự giám sát cần thiết của xã hội đối với các hoạt động của Trường.

– Xây dựng và thực hiện lộ trình tái cấu trúc một cách khoa học và hợp lý, đảm bảo quá trình này được tiến hành với ý chí và nguyện vọng thống nhất của tập thể sư phạm Trường.

 Lộ trình thực hiện dự kiến

– Giai đoạn 1: {dangKytuyensinh.Edu} Tập trung tái cấu trúc để thành lập ba (03) trường dựa trên các lĩnh vực đào tạo truyền thống bao gồm: Trường Kinh doanh, Trường Kinh tế, Trường Khoa học và Công nghệ. Phấn đấu đưa Trường Đại học Kinh tế Quốc dân thành Đại học Kinh tế Quốc dân trước năm 2025. Phát triển cơ sở vật chất cho trung tâm khởi nghiệp sáng tạo (theo hướng các vườn ươm doanh nghiệp). Chuẩn bị các điều kiện để phát triển cơ sở 2 ngoài Hà Nội.

– Giai đoạn 2: 2025 – 2030. Phát triển và xây dựng mới các môn học/ khoa/ bộ môn có liên quan nhiều đến công nghệ như: công nghệ thông tin (khoa học máy tính, công nghệ phần mềm, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo); du lịch và khách sạn (quy hoạch du lịch, kiến trúc khách sạn, công nghệ vận hành khách sạn); công nghệ môi trường (xử lý nước thải, khí thải, ứng phó biến đổi khí hậu). Thành lập mới hai hoặc ba trường trong các ngành, lĩnh vực chuyên sâu. Phát triển cơ sở 2 qua đó mở rộng tầm ảnh hưởng của nhà trường với các địa phương.

Đại học Sư phạm Hà Nội công bố Lịch thi đánh giá năng lực

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội vừa công bố lịch thi đánh giá năng lực năm 2025. Kỳ thi diễn ra vào tháng 5/2025. Thời gian đăng ký dự thi từ 15/3 đến 15/4/2025.

Đây là thông tin được đưa ra tại hội nghị về tổ chức kỳ thi đánh giá năng lực – tuyển sinh đại học năm 2024 và định hướng đổi mới từ năm 2025. Sự kiện do Trường Đại học Sư phạm Hà Nội tổ chức vào ngày 28/12/2023.

Thông tin tại hội nghị, Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Đức Sơn – Phó Hiệu trưởng Đại học Sư phạm Hà Nội (HNUE) cho biết, kỳ thi đánh giá năng lực năm nay về cơ bản sẽ giữ ổn định về cấu trúc bài thi như các năm trước. Thí sinh làm bài thi trực tiếp trên giấy, thời gian thi từ 60-90 phút (tùy môn học), bao gồm các câu hỏi trắc nghiệm và tự luận.

Điểm khác biệt trong kỳ thi đánh giá năng lực của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội so với các trường khác là chia ra từng môn thi (8 môn: Toán, Ngữ văn, Tiếng Anh, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Lịch sử và Địa lý). Cấu trúc các bài thi tương ứng và phù hợp với nội dung các môn học ở cấp trung học phổ thông.

Dự kiến từ năm NAY, kỳ thi đánh giá năng lực của Đại học Sư phạm Hà Nội (HNUE) vẫn sẽ tiếp tục được tổ chức theo môn thi như hiện nay. Theo thầy Sơn, về ngân hàng đề thi, nhà trường sẽ có sự điều chỉnh và bổ sung nhằm phù hợp với định hướng chương trình Giáo dục phổ thông 2018.

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội dự kiến tăng chỉ tiêu tuyển sinh bằng kết quả thi đánh giá năng lực >>> ĐẠI HỌC VINH PHỐI HỢP TỔ CHỨC THÀNH CÔNG KỲ THI ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC HỌC SINH THPT

Các môn thi được tổ chức duy nhất 1 ngày, dự kiến diễn ra vào 11/5/2024. Theo Tiến sĩ Trần Bá Trình – Trưởng phòng Đào tạo, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, kỳ thi được tổ chức vào đầu tháng 5 giúp đảm bảo tất cả thí sinh đều đã được trang bị đầy đủ kiến thức chương trình trung học phổ thông, từ đó ma trận đề thi có thể bao quát hết toàn bộ chương trình học. Đây cũng là thời điểm trước khi diễn ra kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông. Đại diện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội cho rằng việc tham gia kỳ thi đánh giá năng lực thời điểm này cũng là một cách giúp thí sinh ôn tập, chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệp, từ đó giúp giảm bớt áp lực thi cử cho học sinh.

Cấu trúc bài thi đánh giá năng lực năm NAY được giữ ổn định như các năm trước

Cấu trúc bài thi đánh giá năng lực năm TRƯỚC được giữ ổn định như các năm trước

Thông tin thêm, Tiến sĩ Trần Bá Trình cho hay, năm NAY, có khoảng 4.500 thí sinh đăng ký tham dự kỳ thi đánh giá năng lực do trường tổ chức, tăng 190% so với năm TRƯỚC. Tỷ lệ thí sinh đăng ký có mặt dự thi đạt khoảng 95%. Bình quân mỗi thí sinh thi 2,5 môn. Trong đó, 3 môn Toán, Ngữ văn và Tiếng Anh là những môn có số lượng thí sinh dự thi đông nhất.

Quy mô thí sinh, tỷ lệ tham dự kỳ thi đánh giá năng lực của Đại học Sư phạm Hà Nội (HNUE) năm NAY. Nguồn số liệu từ Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Quy mô thí sinh, tỷ lệ tham dự kỳ thi đánh giá năng lực của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm TRƯỚC. Nguồn số liệu từ Đại học Sư phạm Hà Nội (HNUE)

Cũng theo Trưởng phòng Đào tạo Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, tỷ lệ nhập học (số nhập học/trúng tuyển) của thí sinh diện kỳ thi đánh giá năng lực đạt khá cao, khoảng 50%. Trong khi đó, tỷ lệ thí sinh nhập học các phương thức xét tuyển thẳng, xét bằng học bạ,… lại thấp hơn, chỉ đạt khoảng từ 15%-30%.

Qua rà soát, đánh giá chất lượng thí sinh trúng tuyển vào trường bằng điểm thi đánh giá năng lực, Tiến sĩ Trần Bá Trình cho biết các thí sinh có ưu điểm là tư duy rành mạch, rõ ràng, thể hiện ở quá trình học tập – tiếp thu kiến thức chuyên ngành khá tốt.

Bên cạnh đó, người học cũng có khả năng thích ứng với môi trường học tập đại học nhanh. Điều này thể hiện qua ý thức cao trong việc lập kế hoạch và trải nghiệm các phương pháp học tập khác nhau để tìm ra phương pháp phù hợp với bản thân, chủ động trao đổi với giảng viên.

Với những kết quả tích cực từ việc tuyển sinh thông qua kỳ thi đánh giá năng lực, sang năm NAY, Đại học Sư phạm Hà Nội (HNUE) tiếp tục dự kiến tăng tỷ trọng chỉ tiêu dành cho phương thức xét tuyển bằng điểm thi đánh giá năng lực, và giảm tỷ trọng chỉ tiêu cho phương thức xét bằng điểm thi tốt nghiệp.

Mong có thêm nhiều trường sử dụng kết quả bài thi đánh giá năng lực của Đại học Sư phạm Hà Nội (HNUE)  Tham dự hội nghị, ông Nguyễn Ngọc Hà, Phó cục trưởng Cục Quản lý chất lượng, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có nhiều ý kiến đóng góp, gợi mở quan trọng liên quan đến việc tổ chức kỳ thi đánh giá năng lực của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

Ông Nguyễn Ngọc Hà, Phó cục trưởng Cục Quản lý chất lượng, Bộ Giáo dục và Đào tạo.Nhấn mạnh đến điểm khác biệt giữa kỳ thi tốt nghiệp và tuyển sinh đại học, đại diện Cục Quản lý chất lượng cho hay: Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông nhằm đánh giá chuẩn đầu ra của chương trình, trong khi đó, kỳ thi tuyển sinh đại học với mục đích là đánh giá đầu vào.

Ông Nguyễn Ngọc Hà bày tỏ sự đánh giá cao với mô hình tổ chức kỳ thi đánh giá năng lực theo môn của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Bên cạnh đó, ông cũng đánh giá cao cách đánh giá năng lực dựa trên kiến thức học sinh được học ở trong trường. Điều này giúp giảm áp lực cho học sinh theo đúng tinh thần của chương trình giáo dục phổ thông 2018.

Đại diện Cục Quản lý chất lượng bày tỏ mong muốn sẽ có thêm nhiều cơ sở giáo dục đào tạo giáo viên sử dụng kết quả bài thi đánh giá năng lực của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội sẽ để tuyển sinh. Đồng thời, với kết quả đáng tin cậy từ việc tuyển sinh bằng điểm thi đánh giá năng lực, ông hy vọng quy mô sử dụng hình thức tuyển sinh bằng kỳ thi này sẽ tiếp tục được tăng lên.

Cuối cùng, Ông Nguyễn Ngọc Hà đề cập tới vấn đề tổ chức kỳ thi đánh giá năng lực từ năm 2025 (lứa học sinh của chương trình giáo dục phổ thông 2018) với nhiều góp ý mang tính chất kỹ thuật liên quan tới việc xây dựng ngân hàng đề thi, cách đánh giá,… theo hướng cải tiến, phù hợp với mục tiêu, nội dung chương trình mới.

Đề xuất mạnh dạn cho học sinh lớp 11 tham gia kỳ thi đánh giá năng lực-Ông Nguyễn Ngọc Hà, Phó cục trưởng Cục Quản lý chất lượng, Bộ Giáo dục và Đào tạo.Hội nghị cũng ghi nhận nhiều ý kiến góp ý quan trọng của đại diện các cơ sở giáo dục về việc tổ chức kỳ thi.

Đánh giá cao sự cần thiết và ý nghĩa rất quan trọng của kỳ thi, Phó giáo sư, Tiến sĩ Lưu Trang – Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng cho rằng:Thời gian đăng ký dự thi từ 15/3 đến 15/4/2025.“Đây không phải là kỳ thi tuyển sinh đại học thuần túy, mà ý nghĩa lớn hơn đó là thay đổi cách dạy, cách học và đào tạo giáo viên hiện nay”.

Tuy nhiên, Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng nhận định hiện nay kỳ thi đánh giá năng lực của các trường sư phạm chưa thật sự tạo được tiếng vang, sức hấp dẫn và thu hút đông đảo các thí sinh tham gia. Do đó, Phó giáo sư Lưu Trang đề xuất khối các trường sư phạm cần có họp bàn kỹ lưỡng hơn về hướng tổ chức và cách thức truyền thông, quảng bá về kỳ thi đánh giá năng lực này.

Gói ôn thi ĐGNL Sư phạm Hà Nội Phó giáo sư, Tiến sĩ Lưu Trang – Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng.

Thạc sĩ Nguyễn Ngọc Trung – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh cũng đề cập tới vấn đề tăng cường hơn nữa công tác truyền thông cho kỳ thi; đồng thời đề xuất hướng đến việc tổ chức kỳ thi thành nhiều đợt nhằm tạo thuận lợi cho thí sinh tham gia thi.

Ngoài ra, thầy Trung đề xuất nên cho học sinh lớp 11 tham gia kỳ thi đánh giá năng lực. Theo thầy Trung, các em học sinh giỏi lớp 11 hoàn toàn có năng lực để thử sức tham gia thi, việc sử dụng kết quả của các em hay không, tùy thuộc các trường đại học. Do vậy, đại diện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đề xuất các trường đại học mạnh dạn nghiên cứu thêm đối tượng dự thi là các em học sinh lớp 11.

Được biết, hiện kỳ thi đánh giá năng lực của Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh cho phép học sinh lớp 11 đăng ký dự thi và sử dụng kết quả này để xét tuyển cho năm sau đó.

Về đề xuất này, đại diện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Phó giáo sư Nguyễn Đức Sơn cho biết, trường chưa cho phép đối tượng học sinh lớp 11 dự thi bởi không muốn tạo áp lực cho học sinh. Thầy Sơn cũng cho biết, trong tương lai, việc có cho phép đối tượng này dự thi hay không, hiện nhà trường chưa có kế hoạch.

Thạc sĩ Nguyễn Ngọc Trung – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh.Năm nay, bên cạnh khối các trường đào tạo giáo viên, kỳ thi đánh giá năng lực của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội cũng thu hút thêm sự quan tâm của một số khối ngành khác.

Đại diện đến từ cơ sở đào tạo khối ngành kỹ thuật, Tiến sĩ Phạm Thanh Hà – Trưởng phòng Đào tạo, Trường Đại học Giao thông Vận tải cho biết, bên cạnh sử dụng kết quả thi tốt nghiệp trung học phổ thông, những năm gần đây nhà trường cũng sử dụng thêm kết quả từ kỳ thi đánh giá tư duy của Đại học Bách khoa Hà Nội. Tuy nhiên, vị đại diện chia sẻ, số lượng thí sinh tuyển được từ kết quả kỳ thi riêng vẫn còn rất ít so với chỉ tiêu đặt ra.

“Mặc dù chỉ tiêu dành phương thức này là khoảng 600-700 thí sinh ({dangkytuyensinh.Edu}), nhà trường chỉ tuyển được 50 thí sinh, năm  nay được khoảng 200 thí sinh”, Tiến sĩ Phạm Thanh Hà nêu thực tế.

Đánh giá cao kỳ thi đánh giá năng lực của Đại học Sư phạm Hà Nội (HNUE) Tiến sĩ Phạm Thanh Hà cho biết về phía Trường Đại học Giao thông Vận tải sẽ có nghiên cứu kỹ lưỡng để xem xét sử dụng kết quả kỳ thi này cho tuyển sinh của nhà trường.

Các trường Học viện và Đại học khu vực TP. HCM

Danh sách toàn bộ các trường đại học, học viện khu vực TP Hồ Chí Minh (không tính khu vực Hà Nội). Vui lòng click vào tên trường để xem thông tin tuyển sinh mới nhất vào các trường đại học, học viện khu vực TPHCM.

Mã trường Tên trường
  ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
QSB   – Trường Đại học Bách Khoa – ĐHQG TP.HCM
QST   – Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – ĐHQG TPHCM
QSX   – Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – ĐHQG TP.HCM
QSQ   – Trường Đại học Quốc tế – ĐH Quốc gia TP.HCM
QSC   – Trường Đại học Công nghệ Thông tin – ĐH Quốc gia TP.HCM
QSK   – Trường Đại học Kinh tế – Luật, ĐH Quốc gia TP.HCM
QSY   – Khoa Y – ĐH Quốc gia TP.HCM
KSA   ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HVC   Học viện Cán bộ TP.HCM
BVS   Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông – Cơ sở TP.HCM
HCH   Học viện Hành chính Quốc gia – Phân hiệu TP.HCM
HHK   Học viện Hàng không Việt Nam
NVS   Nhạc viện TP.HCM
DSG   Trường Đại học Công nghệ Sài Gòn (*)
DKC   Trường Đại học Công nghệ TP.HCM (*)
IUH   Trường Đại học Công nghiệp TP.HCM
DCT   Trường Đại học Công Thương TP.HCM
DCG   Trường Đại học Gia Định (*)
GSA   Trường Đại học Giao thông vận tải – Cơ sở TP.HCM
GTS   Trường Đại học Giao thông vận tải TP.HCM
DTH   Trường Đại học Hoa Sen (*)
DHV   Trường Đại học Hùng Vương Tp. HCM (*)
KTS   Trường Đại học Kiến trúc TP.HCM
UEF   Trường Đại học Kinh tế – Tài chính TP.HCM (*)
DLS   Trường Đại học Lao động Xã hội – Cơ sở TP.HCM
LPS   Trường Đại học Luật TP.HCM
MBS   Trường Đại học Mở TP.HCM 
MTS   Trường Đại học Mỹ thuật TP.HCM
NHS   Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM
DNT   Trường ĐH Ngoại ngữ – Tin học TP.HCM (*)
NTT   Trường Đại học Nguyễn Tất Thành (*)
NTS   Trường Đại học Ngoại thương – Cơ sở phía Nam
NLS   Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM
UMT   Trường Đại học Quản lý và Công nghệ TP.HCM (*)
HIU   Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng (*)
SIU   Trường Đại học Quốc tế Sài Gòn (*)
SGD   Trường Đại học Sài Gòn
DSD   Trường Đại học Sân khấu Điện ảnh TP.HCM
SPK   Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM
SPS   Trường Đại học Sư phạm TP.HCM
STS   Trường Đại học Sư phạm TDTT TP. HCM
DMS   Trường Đại học Tài chính – Marketing
DTM   Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường TP.HCM
TDS   Trường Đại học Thể dục Thể thao TP.HCM
TLS   Trường Đại học Thủy lợi – Cơ sở TP.HCM
DTT   Trường Đại học Tôn Đức Thắng
DVH   Trường Đại học Văn Hiến (*)
VHS   Trường Đại học Văn hóa TP.HCM
DVL   Trường Đại học Văn Lang (*)
VGU   Trường Đại học Việt – Đức
YDS   Trường Đại học Y Dược TP.HCM
TYS   Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch

 Ghi chú: Các trường Đại học có đánh dấu (*) là các trường ngoài công lập

Nguồn: DANH MỤC GIÁO DỤC, ĐÀO TẠO CẤP IV TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC, Ban hành kèm theo Thông tư số 09/2022/TT-BGDĐT ngày 06 tháng 06 năm 2022 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Các chương trình đào tạo trình độ đại học tiếp nhận người đã tốt nghiệp trung học phổ thông; người đã tốt nghiệp trình độ trung cấp và đã học và thi đạt yêu cầu đủ khối lượng kiến thức văn hóa trung học phổ thông theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; người đã tốt nghiệp trình độ cao đẳng.

Chương trình đào tạo đại học có thời gian tương đương 3 đến 5 năm học tập trung đối với người tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc người đã tốt nghiệp trình độ trung cấp và đã học và thi đạt yêu cầu đủ khối lượng kiến thức văn hóa trung học phổ thông theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Người tốt nghiệp trình độ đại học có thể học tiếp lên thạc sĩ (cao học) theo hướng chuyên môn phù hợp hoặc được nhận vào học các hướng chuyên môn khác nếu đáp ứng được điều kiện của chương trình đào tạo. Người tốt nghiệp trình độ đại học có kết quả học tập xuất sắc có thể được xét tuyển thẳng vào chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ (tiến sĩ khoa học)  đúng hướng chuyên môn ở trình độ đại học. >> Xem thêm: Khung Cơ cấu Hệ thống Giáo dục Quốc dân Việt Nam.

Bên trên là Danh sách mã số cấp 4 của các ngành nghề đào tạo trình độ Đại học ở Việt Nam. Bạn có thể dễ dàng tra cứu mã số mình cần. Ngoài ra, để dễ dàng tra cứu hơn bạn có thể tham khảo >> Danh mục Ngành nghề Việt Nam (đầy đủ các bậc đào tạo). Chúc bạn học tập thuận lợi!

TP.HCM là nơi có nhiều trường Học viện đại học nổi tiếng với chất lượng đào tạo tốt, được nhiều sinh viên đánh giá cao về môi trường học tập. Nếu bạn còn đang phân vân chưa chọn được ngôi trường phù hợp thì hãy xem danh sách các trường đại học học viện khu vực TP.HCM để tham khảo nhé!

Tuyển Sinh Đại Học Tổng Hợp

 

Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (VNU – HCM)

Nằm ở khu vực phía Đông TP.HCM – đô thị phát triển bậc nhất Việt Nam, ĐHQG-HCM được Chính phủ Việt Nam thành lập vào năm 1995 nhằm kiến tạo một trung tâm đào tạo đại học, sau đại học và nghiên cứu khoa học – công nghệ đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao, đạt trình độ tiên tiến, làm nòng cốt cho hệ thống giáo dục đại học, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội.

Tên trường: Đại học Quốc gia TP.HCM

Tên tiếng anh: Vietnam National University –  Ho Chi Minh City (VNU – HCM)

Hệ đào tạo: Đại học – – Tại chức – Liên thông – Sau đại học – Liên kết quốc tế

Danh sách các ngành nghề đào tạo cấp IV trình độ Đại học

Danh sách các nhóm ngành đào tạo trình độ đại học

Danh mục giáo dục đào tạo cấp IV trình độ Thạc sĩ (Cao học)

Danh mục giáo dục đào tạo cấp IV trình độ Tiến sĩ (Tiến sĩ khoa học)

Địa chỉ: Phường Linh Trung, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam

Điện thoại: (+84-28) 37.242.181

Email: info@vnuhcm.edu.vn

Website: https://vnuhcm.edu.vn/

Facebook: www.facebook.com/vnuhcm.info/

Các đơn vị thành viên Đại học Quốc gia TP. HỒ CHÍ MINH

Trường Đại học Bách Khoa – ĐHQG TP.HCM

Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – ĐHQG TP.HCM

Trường Đại học KHXH và Nhân văn – ĐHQG TP.HCM

Trường Đại học Quốc tế – ĐHQG TP.HCM

Trường Đại học Công nghệ Thông tin – ĐHQG TP.HCM

Trường Đại học Kinh tế – Luật – ĐHQG TP.HCM

Trường Đại học An Giang – ĐHQG TP.HCM

Trường Đại học Khoa học Sức khỏe – ĐHQG TP.HCM

Viện Môi trường và Tài nguyên – ĐHQG TP.HCM

Với tổng diện tích 643,7 hecta theo mô hình đô thị đại học hiện đại, ĐHQG-HCM là một trong những cơ sở giáo dục lớn nhất Việt Nam với 36 đơn vị, trong đó có 8 trường đại học thành viên (Trường đại học Bách Khoa, Trường đại học Khoa học Tự nhiên, Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường đại học Quốc Tế, Trường đại học Công nghệ Thông tin, Trường đại học Kinh tế – Luật, Trường đại học An Giang, Trường đại học Khoa học Sức khoẻ), 1 viện nghiên cứu khoa học thành viên (Viện Môi trường và Tài nguyên), 1 Phân hiệu tại tỉnh Bến Tre và 25 đơn vị trực thuộc là các tổ chức khoa học và công nghệ, thư viện, các tổ chức phục vụ đào tạo, dịch vụ.

ĐHQG-HCM đào tạo 93.939 sinh viên đại học, 7.122 học viên cao học, 995 nghiên cứu sinh, cùng đội ngũ học giả với 34 giáo sư, 312 phó giáo sư và 1.197 tiến sĩ. Là hệ thống giáo dục đại học hàng đầu Việt Nam, chương trình đào tạo của ĐHQG-HCM gồm các lĩnh vực: khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, kỹ thuật công nghệ, quản lý kinh tế – luật, khoa học sức khỏe và khoa học nông nghiệp… với 3 trình độ: đại học (138 ngành), thạc sĩ (118 ngành) và tiến sĩ (86 ngành)*.

Xác định tầm nhìn trở thành hệ thống đại học nghiên cứu trong tốp đầu châu Á, ĐHQG-HCM nhiều năm liên tiếp được Tổ chức Giáo dục Quacquarelli Symonds Asia xếp hạng thuộc top 150 ĐH hàng đầu châu lục này. Từ năm 2019, ĐHQG-HCM duy trì thứ hạng thuộc top 701-750 do Tổ chức Giáo dục Quacquarelli Symonds (QS) Anh quốc đánh giá trên 1.000 trường đại học hàng đầu thuộc 82 quốc gia.

Gắn kết và phục vụ cộng đồng là một trong những giá trị cốt lõi mà ĐHQG-HCM xây dựng. Từ năm 2016 đến nay, toàn ĐHQG-HCM thực hiện trên 3.000 hợp đồng chuyển giao công nghệ với tổng doanh thu trung bình hằng năm đạt khoảng 250 tỷ đồng. Cùng mạng lưới đối tác học thuật quốc tế là các tổ chức giáo dục hàng đầu từ châu Á, châu Âu, châu Mỹ và châu Úc, ĐHQG-HCM đã chủ động cập nhật các xu hướng giáo dục tiến bộ nhất trong hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, nhằm nâng cao vị thế và uy tín trong cộng đồng học thuật quốc tế.

“Thúc đẩy tiến bộ xã hội” là lý tưởng mà các đại học hàng đầu thế giới theo đuổi. Đây cũng chính là sứ mạng mà ĐHQG-HCM cam kết thực hiện.

Quy chế tuyển sinh, trúng tuyển quy đổi tương đương về một thang điểm chung

Bộ GD&ĐT đề xuất, điểm xét tuyển, trúng tuyển của các phương thức, tổ hợp môn phải được quy đổi tương đương về một thang điểm chung.Hạn chế xét tuyển sớm Đăng ký, điều chỉnh nguyện vọng xét tuyển: Thí sinh đăng ký, điều chỉnh, bổ sung nguyện vọng xét tuyển (không giới hạn số lần)

Bộ GD&ĐT vừa công bố Dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế tuyển sinh trình độ đại học, tuyển sinh trình độ cao đẳng ngành Giáo dục Mầm non. Theo đó, Bộ GD&ĐT đề xuất, các điểm xét, điểm trúng tuyển của các phương thức, tổ hợp môn sử dụng để xét tuyển phải được quy đổi tương đương về một thang điểm chung, thống nhất đối với từng chương trình, ngành, nhóm ngành đào tạo. Đây là điều mới, chưa từng triển khai trước đây.

Lý giải điều này, bà Nguyễn Thu Thủy – Vụ trưởng Giáo dục đại học (Bộ GD&ĐT) cho hay, những năm vừa qua, hầu hết cơ sở đào tạo phân bổ chỉ tiêu riêng cho từng phương thức xét tuyển, thậm chí cho từng tổ hợp môn xét tuyển; từ đó áp dụng các tiêu chí xét tuyển để tính điểm xét của thí sinh và xác định điểm trúng tuyển từ cao xuống thấp cho tới hết chỉ tiêu của từng phương thức, tổ hợp môn xét tuyển.

Điều này giúp các trường có thể sử dụng xét tuyển sớm để chủ động hoàn thành kế hoạch tuyển sinh. Tuy nhiên, khó có cơ sở khoa học hay thực tiễn cho việc phân bổ chỉ tiêu giữa các phương thức hay tổ hợp xét tuyển của một ngành đào tạo, dẫn tới xuất hiện những vấn đề như: chênh lệch điểm trúng tuyển một cách bất hợp lý giữa các phương thức, tổ hợp môn xét tuyển; đồng thời đẩy điểm chuẩn của phương thức xét tuyển theo điểm thi tốt nghiệp THPT lên cao do chỉ tiêu dành cho phương thức này không còn nhiều, đặc biệt là ở các ngành, trường “hot”.

Vô hình trung gây bất công bằng về cơ hội cho những thí sinh không có điều kiện tiếp cận nhiều phương thức xét tuyển. Vì vậy, dự thảo sửa đổi quy chế lần này quy định cơ bản thống nhất áp dụng quy đổi tương đương điểm xét của các phương thức, tổ hợp môn xét tuyển về một thang điểm chung, thống nhất đối với mỗi chương trình, ngành, nhóm ngành đào tạo, trên cơ sở đó xác định điểm trúng tuyển từ cao xuống thấp cho hết chỉ tiêu của chương trình, ngành, nhóm ngành đào tạo, trừ trường hợp xét tuyển thẳng, xét tuyển sớm các thí sinh có năng lực, thành tích vượt trội.

Dự thảo cũng quy định cách thức quy đổi phải bảo đảm cơ hội cho mọi thí sinh có thể đạt mức điểm tối đa của thang điểm chung đồng thời không có thí sinh nào có điểm xét vượt mức điểm tối đa này.

Theo đó, các cơ sở đào tạo sẽ phải nghiên cứu để quy định lại việc cộng điểm các chứng chỉ ngoại ngữ và các điểm cộng ưu tiên khác, qua đó hạn chế việc lạm dụng gây bất công bằng giữa các thí sinh có điều kiện đầu tư cho học tập khác nhau.(những thí sinh xác nhận nhập học không được đăng ký nguyện vọng xét tuyển tiếp theo, trừ các trường hợp được thủ trưởng CSĐT cho phép không nhập học). Trong trường hợp chưa xác định nhập học, thí sinh có thể tiếp tục đăng ký NVXT trên hệ thống hoặc Cổng dịch vụ công quốc gia như những thí sinh khác để các CSĐT xét tuyển, nếu thí sinh trúng tuyển sẽ xác nhận nhập học theo lịch chung

Khi đó, tất cả thí sinh dự tuyển vào một ngành đào tạo sẽ được xét tuyển một cách công bằng dựa trên một thang điểm chung và một điểm chuẩn trúng tuyển chung, cơ hội trúng tuyển của những thí sinh có năng lực thực sự sẽ tăng lên và chất lượng đầu vào của các trường cũng tăng theo.

Các trường vẫn có cơ hội xét tuyển sớm để chủ động cạnh tranh tuyển được những thí sinh giỏi nhất, đồng thời các em có năng lực tốt nhất cũng vẫn có cơ hội trúng tuyển sớm để chủ động quyết định lựa chọn con đường học tập phù hợp nhất.

Theo bà Nguyễn Thu Thủy, quy định này sẽ tác động làm hạn chế việc xét tuyển sớm. Bên cạnh đó là quy định không xét tuyển sớm quá 20% chỉ tiêu. Những điều này sẽ góp phần khắc phục các bất cập phát sinh từ việc xét tuyển sớm. Các trường sẽ không phải dành quá nhiều thời gian và nguồn lực cho việc xét tuyển này hay việc nhiều học sinh lớp 12 lơ là học tập khi đã biết kết quả trúng tuyển.

Hai điểm mới cốt lõi Thí sinh phải xác nhận số lượng, thứ tự nguyện vọng xét tuyển trên hệ thống đồng thời nộp lệ phí xét tuyển theo số lượng nguyện vọng xét tuyển bằng hình thức trực tuyến.

Chia sẻ về những điểm mới cốt lõi của dự thảo so với quy chế hiện hành, Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học cho hay, dự thảo thông tư sửa đổi tập trung khắc phục những bất cập trong công tác tuyển sinh hiện nay.

Thứ nhất là việc cơ sở đào tạo sử dụng nhiều phương thức, tổ hợp môn xét tuyển đối với cùng một chương trình, ngành đào tạo, trong đó có việc một số cơ sở đào tạo dành quá nhiều chỉ tiêu cho xét tuyển sớm, hay việc quy định điểm cộng quá lớn cho các chứng chỉ ngoại ngữ.

Thứ hai, {dangkytuyensinh.edu.vn} là năm đầu tiên các học sinh học theo chương trình giáo dục phổ thông mới sẽ xét tuyển đại học. Vì vậy, cần đổi mới quy chế tuyển sinh để đáp ứng yêu cầu của những đổi mới trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018, tạo tác động tích cực tới việc dạy và học ở cấp trung học phổ thông.

Theo đó, những điểm mới cốt lõi gồm điều chỉnh quy định ngưỡng đảm bảo chất lượng đầu vào với nhóm ngành sư phạm, sức khoẻ; chỉ tiêu xét tuyển sớm do cơ sở đào tạo quy định nhưng không vượt quá 20% chỉ tiêu của từng ngành, nhóm ngành đào tạo; điểm xét, điểm trúng tuyển của các phương thức, tổ hợp môn sử dụng để xét tuyển phải được quy đổi tương đương về một thang điểm chung, thống nhất đối với từng chương trình, ngành, nhóm ngành đào tạo; xét tuyển bằng học bạ phải dùng kết quả học tập cả năm lớp 12 của thí sinh…

“Những nội dung sửa đổi, bổ sung khác chủ yếu mang tính kỹ thuật, tạo thuận lợi cho quá trình tổ chức đăng ký và xét tuyển” – bà Nguyễn Thu Thủy cho hay.

https://giaoducthoidai.vn/de-xuat-diem-xet-tuyen-trung-tuyen-quy-doi-tuong-duong-ve-mot-thang-diem-chung-post710127.html

 

Đánh Giá nâng cao hiệu quả trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục

Các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục góp phần tích cực trong triển khai hoạt động kiểm định, làm thay đổi nhận thức của cơ sở giáo dục đại học.

Sinh viên Trường Đại học Ngoại thương Theo GS.TS Huỳnh Văn Chương – Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng (Bộ GD&ĐT), công tác giám sát, tìm giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức này được quan tâm.

Giám sát thường xuyên– Hiện cả nước có 17 tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục trong và ngoài nước được thành lập và cấp phép hoạt động. Ông có thể cho biết, Bộ GD&ĐT đã thực hiện chức năng quản lý Nhà nước trong giám sát hoạt động các tổ chức này thế nào?

Tính đến 31/10/2024, cả nước có 2.109 chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục ĐH được cấp chứng nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng (gồm 1.492 chương trình đào tạo đánh giá theo tiêu chuẩn trong nước và 617 chương trình đào tạo đánh giá theo tiêu chuẩn nước ngoài). Có 208 cơ sở giáo dục ĐH được cấp chứng nhận kiểm định cơ sở, chiếm 85,9% tổng số cơ sở giáo dục ĐH cả nước (gồm 196 cơ sở giáo dục ĐH đánh giá theo tiêu chuẩn trong nước và 12 cơ sở giáo dục ĐH đánh giá theo tiêu chuẩn nước ngoài).

– Để thiết lập được hệ thống đánh giá, giám sát các hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục đại học, bảo đảm nguyên tắc độc lập, khách quan trong hoạt động kiểm định và phù hợp thông lệ quốc tế, Bộ GD&ĐT đã tham mưu Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình phát triển hệ thống bảo đảm và kiểm định chất lượng đối với giáo dục ĐH và CĐ sư phạm giai đoạn đăng ký Online, với các chỉ tiêu và nhiệm vụ chiến lược để phát triển hệ thống.

Trong {dangkytuyensinh.edu.vn}, Bộ GD&ĐT ban hành và triển khai Thông tư số 13/2023/TT-BGD&ĐT quy định việc giám sát, đánh giá kiểm định chất lượng giáo dục ĐH và CĐ sư phạm. Các cơ sở giáo dục ĐH cũng tích cực thực hiện trách nhiệm phản hồi về hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục theo yêu cầu của Thông tư.

Theo đó, các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục chịu sự giám sát thường xuyên của cơ quan quản lý Nhà nước thông qua cơ chế theo dõi định kỳ và phản hồi của cơ sở giáo dục ĐH đối với kiểm định viên, đoàn đánh giá ngoài, hội đồng kiểm định và sự đánh giá trực tiếp của bên thứ ba (thông qua hoạt động của đoàn đánh giá tổ chức kiểm định do Bộ GD&ĐT thành lập).

Cuối năm nay và đầu năm tới, Bộ GD&ĐT tổ chức Đoàn kiểm tra trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ theo quy định tại Nghị định số 99/2019/NĐ-CP đối với 7 tổ chức kiểm định trong nước để nắm tình hình và thực trạng, đề xuất cấp có thẩm quyền điều chỉnh chính sách về bảo đảm và kiểm định chất lượng giáo dục.

GS.TS Huỳnh Văn Chương. Bộ GD&ĐT đã ban hành Thông tư 13/2023/TT-BGDĐT quy định việc giám sát, đánh giá tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục ĐH và CĐ sư phạm.Trung tâm kiểm định trong nước quá tải- Qua kiểm tra, ông nhận thấy tình hình và kết quả hoạt động của các trung tâm kiểm định trong nước ra sao?

– Hoạt động kiểm định ở Việt Nam còn khá mới, được bắt đầu thực hiện thí điểm từ năm nay; nhưng đến năm tới mới có 2 tổ chức kiểm định trong nước được thành lập và cấp phép hoạt động.

Đến nay, Bộ GD&ĐT đã thành lập và cấp phép hoạt động cho tổng số 17 tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục trong và ngoài nước theo quy định của luật và nghị định có liên quan gồm: Thành lập và cho phép hoạt động đối với 4 trung tâm công lập; cho phép thành lập và hoạt động đối với 3 trung tâm tư theo đề nghị của Hiệp hội các trường ĐH, CĐ Việt Nam và các doanh nghiệp; 10 tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục nước ngoài được Bộ GD&ĐT công nhận hoạt động ở Việt Nam.

Các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục đã góp phần tích cực vào việc triển khai các hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục, làm thay đổi nhận thức của cơ sở giáo dục ĐH và xem hoạt động bảo đảm chất lượng là nhiệm vụ thường xuyên.

Thông qua công cụ là các bộ tiêu chuẩn kiểm định cơ sở (111 tiêu chí) và kiểm định chương trình đào tạo (51 tiêu chí) có thể bao quát đến mọi mảng công việc của một cơ sở giáo dục ĐH và không một đơn vị nào trong nhà trường lại đứng ngoài cuộc.

Theo đó, kiểm định là công cụ “chẩn đoán tổng thể” cho nhà trường, hệ thống giáo dục ĐH, nhằm tư vấn cải tiến chất lượng cho nhà trường và tham mưu cơ quan quản lý Nhà nước để điều chỉnh chính sách phù hợp qua từng giai đoạn. Kết quả kiểm định là một trong những phương cách mà nhà trường bao gồm cả trường tự chủ thực hiện trách nhiệm giải trình với xã hội của mình.

Việc ngày càng có nhiều cơ sở giáo dục ĐH Việt Nam tham gia kiểm định nước ngoài, được công nhận chất lượng là sự ghi nhận nỗ lực của các cơ sở này, cũng như cho thấy đang đi đúng theo kế hoạch bảo đảm và kiểm định chất lượng giáo dục ĐH của Thủ tướng Chính phủ theo Quyết định số 78/QĐ-TTg năm 2022.

Từ số liệu kết quả kiểm định chương trình đào tạo và cơ sở giáo dục cho thấy, dù có đến 7 trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục trong nước, hơn 10 tổ chức kiểm định nước ngoài, nhưng các trung tâm trong nước đang trong tình trạng quá tải. Lý do, nguồn lực kiểm định viên chưa phát triển theo yêu cầu thực tế, thiếu về số lượng theo từng nhóm, khối ngành và hạn chế về kinh nghiệm.

Vẫn còn tình trạng tư vấn, đánh giá của kiểm định chưa đáp ứng kỳ vọng của nhà trường, đặc biệt trong những vấn đề mang tính chiến lược hay kinh nghiệm trong xây dựng phát triển chương trình đào tạo mang tính chuyên sâu, đặc thù.

Dựa trên các nhóm nguyên tắc của hoạt động kiểm định theo quy định của Luật Giáo dục ĐH, kiểm định là một dịch vụ công do Nhà nước ủy quyền và giao cho các trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục ĐH thực hiện. Nhà trường được lựa chọn tổ chức kiểm định mà mình tin cậy dựa trên cơ sở uy tín của các tổ chức.

Các trường ĐH lớn có xu hướng kiểm định đa dạng theo các tiêu chuẩn của tổ chức kiểm định quốc tế và cả trong nước. Vì vậy, khi đăng ký kiểm định theo tiêu chuẩn trong nước, cơ sở giáo dục ĐH mong muốn lựa chọn được những trung tâm kiểm định uy tín.

Điều này cũng phần nào tạo ra hiệu ứng tốt như: Các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục phải lựa chọn kiểm định viên cẩn thận và tự nâng tầm quản trị, quản lý, hoạt động để hội nhập quốc tế.

Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục – Hiệp hội các trường ĐH, CĐ Việt Nam khảo sát sơ bộ phục vụ đánh giá chất lượng 2 chương trình đào tạo trình độ ĐH tại Trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long.Nhiều giải pháp nâng cao chất lượng kiểm định,Kiểm tra, giám sát thường xuyên các trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục

– Bộ GD&ĐT có những giải pháp nào để nâng cao hiệu quả công tác kiểm định chất lượng giáo dục ĐH trong thời gian tới?

– Bộ GD&ĐT sẽ tiếp tục rà soát, xây dựng, tích hợp các chính sách liên quan đến hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục ĐH để ngày càng tạo ra môi trường thuận lợi; bảo đảm các hoạt động này đi vào chiều sâu, phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo sự cạnh tranh lành mạnh giữa các tổ chức kiểm định, giúp cho công tác công khai, giải trình của các cơ sở giáo dục ĐH theo xu hướng tự chủ.

Đồng thời, tập trung nhiều giải pháp để nâng cao chất lượng thông qua hỗ trợ phát triển đội ngũ kiểm định viên có năng lực, chuyên sâu và tiếp cận với môi trường kiểm định chất lượng giáo dục ĐH quốc tế. Giúp các cơ sở giáo dục ĐH và tổ chức kiểm định xây dựng hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong thông qua việc xác định sứ mạng tầm nhìn và phát triển hệ thống quản trị kiểm soát nội bộ, mở rộng hợp tác quốc tế.

Bộ GD&ĐT sẽ hoàn thiện hành lang pháp lý về kiểm định chất lượng giáo dục và phối hợp với các bộ, ngành để hoàn thiện về cơ chế pháp lý, tài chính trong kiểm định, nhất là công tác đấu thầu tập trung vào chất lượng. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra thường xuyên, định kỳ cho các hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục và hợp tác quốc tế về bảo đảm, kiểm định chất lượng giáo dục.

– Xin cảm ơn ông! Theo GS.TS Huỳnh Văn Chương – Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng (Bộ GD&ĐT), từ khi có Luật Giáo dục ĐH và nhất là khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục ĐH được ban hành năm 2018 đến nay, Bộ GD&ĐT đã ban hành cơ bản đầy đủ các văn bản pháp luật để triển khai đối với hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục ĐH.

Các cơ sở giáo dục ĐH đã ý thức rõ trách nhiệm kiểm định không chỉ để có được tấm giấy chứng nhận, mà coi đây là hoạt động thường xuyên của nhà trường để nâng cao chất lượng, đồng thời là một tiêu chí để tăng cường hội nhập quốc tế.

Qua công tác kiểm định chất lượng, hệ thống quản trị, quản lý của nhà trường từng bước thay đổi dẫn đến chuyển biến hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong, đặc biệt là sự chuyển đổi từ mô hình đào tạo theo năng lực của nhà trường sang đào tạo theo chuẩn đầu ra, tiến tới theo năng lực của người học.

Đại học Kiến trúc University (HAU)

Tên trường: Đại học Kiến trúc Hà Nội

Tên tiếng Anh: Hanoi Architectural University (HAU)

Mã trường: KTA

Loại trường: Công lập

Hệ đào tạo: Đại học – Sau đại học – Văn bằng 2 – Liên thông – Liên kết quốc tế

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO CỦA MỘT SỐ NGHỀ TRÌNH ĐỘ SƠ CẤP

Chuẩn đầu ra các ngành Khung đào tạo trình độ trung cấp chuyên nghiệp

Các ngành đào tạo trình độ cao đẳng,Khung chương trình Các ngành đào tạo trình độ cao đẳng

Khung chương trình Các nghề đào tạo hệ cao đẳng nghề

Danh sách các nhóm ngành đào tạo trình độ đại học

Danh sách các ngành nghề đào tạo cấp IV trình độ Đại học

Danh mục giáo dục đào tạo cấp IV trình độ Thạc sĩ (Cao học)

Danh mục giáo dục đào tạo cấp IV trình độ Tiến sĩ (Tiến sĩ khoa học)

Địa chỉ: Km 10, Đường Nguyễn Trãi, Quận Thanh Xuân, Hà Nội

SĐT: 024.3854 1616

Website: http://www.hau.edu.vn/

Facebook: www.facebook.com/DHKIENTRUCHN/

Km 10, Đường Nguyễn Trãi, Quận Thanh Xuân , TP Hà Nội, Việt NamThực hiện Kế hoạch đánh giá chất lượng các chương trình đào tạo theo Bộ tiêu chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội công bố Dự thảo Báo cáo Tự đánh giá các chương trình đào tạo đại học bao gồm: Kiến trúc cảnh quan; Kỹ thuật cơ sở hạ tầng; Kỹ thuật cấp thoát nước; Quản lý xây dựng.Việc công bố này giúp cán bộ, giảng viên, nhân viên, người học và các bên liên quan có cơ hội tiếp cận Dự thảo Báo cáo tự đánh giá một cách chính thức và giúp Hội đồng Tự đánh giá, Ban Thư ký ghi nhận ý kiến đóng góp để hoàn thiện Dự thảo Báo cáo tự đánh giá.

Đại học Kiến trúc Hà Nội có một lịch sử lâu đời và phong phú, bắt đầu từ thời kỳ Việt Nam còn dưới sự thống trị của Pháp với tên gọi ban đầu là Trường Mỹ Thuật Đông Dương. Qua nhiều giai đoạn lịch sử, trường đã trải qua nhiều tên gọi trước khi được đổi tên chính thức thành Đại học Kiến trúc Hà Nội thông qua Quyết định 426/TTg của Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

Mục tiêu phát triển Hanoi Architectural University (HAU)

Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội đặt mục tiêu phấn đấu để trở thành một cơ sở đào tạo đa ngành và đa lĩnh vực. Trường tự hào phát triển với những đặc điểm riêng biệt và trở thành một địa chỉ đáng tin cậy. Trường hấp dẫn các nhà đầu tư trong lĩnh vực xây dựng cũng như các doanh nghiệp trong, ngoài nước.

 Cơ sở vật chất và mức học phí của trường.Cơ sở vật chất Hanoi Architectural University (HAU)

Trường đã xây dựng một tòa giảng đường cao 13 tầng với kiến trúc hiện đại, sạch sẽ và ấn tượng. Ngoài ra, thư viện điện tử của trường có hàng ngàn cuốn sách để phục vụ cho hoạt động giảng dạy và học tập của giảng viên và sinh viên. Để đảm bảo cơ sở vật chất tốt cho sinh viên, Đại học Kiến trúc Hà Nội cũng đã xây dựng một khu ký túc xá lớn, nằm trên khu đất của trường, đáp ứng nhu cầu về chỗ ăn ở và tiện nghi cho sinh viên.

>>> Xem thêm: Di chúc cần phải công chứng, chứng thực trong những trường hợp nào? Phí công chứng di chúc là bao nhiêu?

Như vậy, trên đây là giải đáp của chúng tôi về vấn đề “Thông tin địa chỉ Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội”. Ngoài ra, nếu có bất kỳ thắc mắc nào hoặc cần hỗ trợ pháp lý, quý khách vui lòng liên hệ trực tiếp với Văn phòng Công Thông Tin Tuyển Sinh Trực Tuyến theo thông tin:

 

Đại học Lâm nghiệp (VNUF)

Tên trường: Đại học Lâm nghiệp

Tên tiếng Anh: Vietnam National University of Forestry (VNUF)

Mã trường: LNH

Loại trường: Công lập

Hệ đào tạo: Đại học – Sau Đại học – Văn bằng 2 – Liên thông – Dự bị Đại học

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO CỦA MỘT SỐ NGHỀ TRÌNH ĐỘ SƠ CẤP

Chuẩn đầu ra các ngành Khung đào tạo trình độ trung cấp chuyên nghiệp

Các ngành đào tạo trình độ cao đẳng,Khung chương trình Các ngành đào tạo trình độ cao đẳng

Khung chương trình Các nghề đào tạo hệ cao đẳng nghề

Danh sách các nhóm ngành đào tạo trình độ đại học

Danh sách các ngành nghề đào tạo cấp IV trình độ Đại học

Danh mục giáo dục đào tạo cấp IV trình độ Thạc sĩ (Cao học)

Danh mục giáo dục đào tạo cấp IV trình độ Tiến sĩ (Tiến sĩ khoa học)

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP TRỤ SỞ CHÍNH

Địa chỉ: Thị trấn Xuân Mai, huyện Chương Mỹ, Hà Nội

Tel: 024 33840233 – Fax: 024 33840063

ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP PHÂN HIỆU TẠI ĐỒNG NAI

Địa chỉ: Thị Trấn Trảng Bom, Huyện Trảng Bom, Tỉnh Đồng Nai

Tel: 02513 866 242 – Fax: 02513 866 242

ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP PHÂN HIỆU TẠI GIA LAI

Địa chỉ: Tổ 4, Phường Chi Lăng, Thành phố Pleiku, Tỉnh Gia Lai. Tel: 0269 3747 706

Email: vfu@vfu.edu.vn

Website: https://vnuf.edu.vn/

Facebook: www.facebook.com/daihoclamnghiepfc/

Đại học Lâm nghiệp (Trường ĐHLN) trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn được thành lập theo Quyết định số 127/CP ngày 19/8/1964 của Hội đồng Chính phủ trên cơ sở tách Khoa Lâm nghiệp và Tổ Cơ giới khai thác Lâm nghiệp trong Trường Đại học Nông lâm (nay là Học Viện Nông nghiệp Việt Nam). Từ năm 1964 -1984, Trường đóng trên địa bàn 2 xã Bình Dương và An Sinh, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Năm 1984, Trường chuyển về và đóng trên địa bàn thị trấn Xuân Mai, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.

Sứ mạng:Vietnam National University of Forestry (VNUF)

– Là cơ sở giáo dục đại học hàng đầu về đào tạo, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu và phát triển, chuyển giao khoa học công nghệ về lĩnh vực lâm nghiệp, tài nguyên môi trường, kỹ thuật, công nghệ, kinh tế chính sách và quản lý, góp phần quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Tầm nhìn:Vietnam National University of Forestry (VNUF)

– Đến năm 2050, trở thành đại học đa ngành, định hướng nghiên cứu, ứng dụng đạt chất lượng đẳng cấp trong nước, khu vực và quốc tế; phát huy vị thế hàng đầu ở Việt Nam về đào tạo, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu khoa học và phát triển, chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ và kinh tế chính sách; giữ vững vị trí hàng đầu trong lĩnh vực lâm nghiệp, tài nguyên môi trường, phòng chống và giảm nhẹ thiên tai góp phần quan trọng cho sự phát triển bền vững của đất nước.

Mục tiêu chiến lược:Vietnam National University of Forestry (VNUF)

– Phát triển đào tạo và khoa học công nghệ theo hướng đa ngành, đa tầng, đa cấp độ và đa loại hình;

– Đổi mới quản trị đại học theo hướng tự chủ và hội nhập, tiếp tục giữ vững và phát huy vị thế hàng đầu của cả nước về lâm nghiệp, trở thành trường đại học theo định hướng nghiên cứu, ứng dụng và đạt chất lượng đẳng cấp trong nước, khu vực và quốc tế về lĩnh vực lâm nghiệp, tài nguyên môi trường, kỹ thuật, công nghệ, kinh tế chính sách, quản lý và phát triển nông thôn;

– Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt hàng đầu về lâm nghiệp và phát triển nông thôn.

Giá trị cốt lõi:Vietnam National University of Forestry (VNUF)

Trường Đại học Lâm nghiệp không ngừng phấn đấu để tạo ra “Văn hoá, Chất lượng Đại học Lâm nghiệp” đặc thù với 3 giá trị cốt lõi:

– Uy tín – Chất lượng (Thương hiệu của chúng tôi)

– Tôn trọng – Chia sẻ (Phương châm/nguyên tắc/lẽ sống của chúng tôi)

– Hội nhập – Bền vững (Sản phẩm của chúng tôi)

 

Nhóm ngành QUY HOẠCH VÀ KIẾN TRÚC

* Nhóm ngành KIẾN TRÚC VÀ QUY HOẠCH gồm có các ngành:

Mã ngành Tên ngành
7580101 Kiến trúc
7580102 Kiến trúc cảnh quan
7580103 Kiến trúc nội thất
7580104 Kiến trúc đô thị
7580105 Quy hoạch vùng và đô thị
7580106 Quản lý đô thị và công trình
7580108 Thiết kế nội thất
7580111 Bảo tồn di sản kiến trúc – đô thị
7580112 Đô thị học

 * Dưới đây là danh sách các trường đại học có tuyển sinh và đào tạo một hoặc một số ngành trong nhóm ngành trên: DANH SÁCH TẤT CẢ CÁC NGÀNH NGHỀ TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY
Điểm danh tên các ngành nghề với gần 300 ngành khác nhau, cùng với thông tin tuyển sinh, điểm chuẩn, chương trình đào tạo, các trường tuyển sinh và cơ hội việc làm trong những năm tới được Cổng Thông tin tuyển sinh cập nhật trong bài viết dưới đây:

Trong bối cảnh tốc độ đô thị hóa ở Việt Nam đang diễn ra nhanh chóng, vai trò của công tác quy hoạch vùng và đô thị ngày càng trở nên quan trọng với sự phát triển của đất nước và từng địa phương.>>>>Danh sách các trường Đại học khu vực miền Bắc

Tuy là ngành học còn khá mới tại Việt Nam nhưng Quy hoạch vùng và đô thị được đánh giá là ngành có cơ hội việc làm rộng mở và phù hợp với xu hướng phát triển của xã hội. Ngành này hướng tới đào tạo các kiến trúc sư quy hoạch làm việc chủ yếu trong lĩnh vực quy hoạch và phát triển đô thị, nông thôn.

Chương trình đào tạo ngành Quy hoạch vùng và đô thị Trao đổi với phóng viênTạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Lê Quỳnh Chi – Phụ trách bộ môn Quy hoạch vùng và đô thị, Trường Mã Ngành Xây dựng Hà Nội cho biết, Quy hoạch vùng và đô thị là ngành thiết kế không gian sống học tập, làm việc, vui chơi giải trí, thể thao, mua sắm, du lịch… bao gồm tất cả các không gian bên ngoài công trình.>>>>Danh sách các trường Đại học khu vực miền Trung & Tây Nguyên

Học ngành Quy hoạch vùng và đô thị, sinh viên sẽ được cung cấp kiến thức thiết kế từ các khu đô thị thông minh, hiện đại, các khu giải trí mang tầm quốc tế đến các tuyến phố đi bộ, tái sử dụng không gian nhà máy cho các hoạt động sáng tạo. Sinh viên vừa nắm được nghệ thuật để tạo nên các không gian đẹp, vừa nắm được kỹ thuật để không gian có thể xây dựng được.

Ngoài được trang bị kỹ năng về mặt diễn họa, thể hiện các không gian, sinh viên còn được rèn kỹ năng mềm để làm việc với nhiều đối tác, đặc biệt là cộng đồng cư dân địa phương.Tiến sĩ Lê Quỳnh Chi, phụ trách bộ môn Quy hoạch vùng và đô thị, Trường mã ngành Xây dựng. 

Bên cạnh đó nhà trường cũng chú trọng hợp tác chặt chẽ với doanh nghiệp để nâng cao chất lượng đào tạo. Thứ nhất là tổ chức chương trình thực tập tại các công ty tư vấn thiết kế, tập đoàn bất động sản và cơ quan quản lý. Thứ hai là kết nối với doanh nghiệp thông qua các môn học, đặc biệt là đồ án kết hợp giữa kiến thức nhà trường và nhu cầu thực tiễn của chủ đầu tư.

Sinh viên nhà trường được tiếp xúc với doanh nghiệp từ năm thứ 2, được đi khảo sát thực địa và trình bày phương án với doanh nghiệp. Đồng thời, các sản phẩm thiết kế của sinh viên cũng được chuyển giao cho doanh nghiệp.>>>>Danh sách các trường Đại học khu vực miền Nam

Ngoài ra, sự hợp tác với các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức quốc tế thông qua các dự án quy hoạch mang tính cộng đồng và xã hội cũng giúp sinh viên tiếp cận với các xu hướng mới, thể hiện trách nhiệm xã hội và nhận thức được giá trị công việc mình đang làm.

Trong khi đó, Thạc sĩ, Kiến trúc sư Nguyễn Phạm Kim Toàn – Trưởng Bộ môn Quy hoạch, Trường ngành Kiến trúc cho biết, ngành Quy hoạch vùng và đô thị cung cấp kiến thức cơ bản về khoa học xã hội, kinh tế và pháp luật cho việc học tập, nghiên cứu và làm việc trong lĩnh vực chuyên môn. Bên cạnh đó là kiến thức về lịch sử quy hoạch tiêu biểu ở Việt Nam và thế giới để kết nối kinh nghiệm, ứng dụng và hình thành quan điểm cá nhân. Qua đó, sinh viên sẽ xác định được các yếu tố về xã hội, môi trường trong quá trình thiết kế kiến trúc, quy hoạch và đánh giá được sự thích ứng của đô thị.

Về kỹ năng, sinh viên có kỹ năng trình bày quy trình thiết kế một đồ án kiến trúc, quy hoạch theo các tiêu chuẩn liên quan đến kiến trúc, quy hoạch vùng và đô thị. Đồng thời vận dụng kiến thức để phát triển chương trình thiết kế và giám sát thông qua nghiên cứu, phân tích hồ sơ.

Trong quá trình học, sinh viên có nhiều cơ hội trải nghiệm thực tế từ các môn học ứng dụng mô hình học tập gắn kết cộng đồng và hội thảo từ doanh nghiệp. Với học phần thực tập tốt nghiệp, sinh viên được trường gửi đến các đơn vị trong lĩnh vực chuyên ngành để thực tập trong vòng 6 tuần.

Sau mỗi chuyến đi thực tế, sinh viên có thêm nhiều ý tưởng trong việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp tăng tính nhận diện cho địa phương. Đồng thời gắn kết các yếu tố môi trường, kinh tế – xã hội để tạo ra những không gian đẹp, góp phần phát triển du lịch bền vững.

Sinh viên ngành Quy hoạch vùng và đô thị, Đại học Kiến trúc  tham gia khảo sát thực tế phục vụ môn học tại làng chài Cơ hội việc làm đa dạng nhưng cần nắm chắc nhiều kỹ năng

Theo Tiến sĩ Lê Quỳnh Chi, sinh viên tốt nghiệp ngành Quy hoạch vùng và đô thị có thể làm việc trong các cơ quan quản lý nhà nước, công ty tư vấn thiết kế, tập đoàn đầu tư. Cụ thể là thực hiện công tác quản lý đô thị, quản lý dự án đầu tư xây dựng, cấp phép tại các cơ quan quản lý nhà nước các cấp từ trung ương đến tỉnh/thành phố, quận/huyện, phường/xã.

Ngoài ra, sinh viên có thể trở thành nhà tư vấn, thực hiện các dự án thiết kế không gian từ quy mô đô thị đến các khu du lịch, các khu đô thị mới, các khu trung tâm công cộng, thiết kế các không gian nhỏ tại các đơn vị tư vấn hoặc tư vấn, quản lý dự án của chủ đầu tư. Sinh viên ra trường cũng có khả năng làm việc trong lĩnh vực bất động sản do có kiến thức, kỹ năng phân tích, xác định giá trị đất đai.

Để thực hiện tốt công việc, đòi hỏi sinh viên phải có kiến thức về nghệ thuật tổ chức không gian đẹp và khoa học, có khả năng diễn họa được ý tưởng không gian, có khả năng thuyết trình tốt để thuyết phục khách hàng. Đặc biệt, nếu sinh viên có khả năng ngoại ngữ tốt sẽ có nhiều cơ hội làm việc cho các doanh nghiệp liên doanh nước ngoài với mức lương cao.

Dự báo điểm chuẩn nhóm ngành Kiến trúc và xây dựng tăng từ 0.25-1 điểm Tiến sĩ Lê Quỳnh Chi cho biết, theo khảo sát hàng năm của Trường Đại học Xây dựng, tỷ lệ sinh viên ngành Quy hoạch vùng và đô thị ra trường có việc làm đạt trên 90%, trong đó trên 80% sinh viên làm việc đúng với ngành đào tạo.

“Nhiều sinh viên chỉ mất 6 tháng đến 1 năm làm việc thực tế để có những bước tiến vượt bậc, thậm chí có thể chủ trì thiết kế một số dự án quy hoạch. Điều này có được nhờ sự nỗ lực của bản thân sinh viên và nền móng kiến thức, kỹ năng, thái độ làm việc các em được trang bị.

Thực tế hiện nay, nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tìm kiếm kiến trúc sư quy hoạch, đặc biệt là kiến trúc sư quy hoạch có năng lực và kinh nghiệm thực tế. Do vậy, sinh viên quy hoạch ra trường không hề khó khăn trong việc tìm kiếm cơ hội việc làm”, cô Chi cho hay.

Hiện nay, nhiều doanh nghiệp lớn sẵn sàng nhận sinh viên năm 3, năm 4 vào làm việc bán thời gian. Đây cũng là cơ hội để các bạn có thêm kinh nghiệm làm việc ngay từ khi chưa tốt nghiệp. Với những kiến trúc sư quy hoạch có kinh nghiệm và năng lực quản lý, vận hành, tổ chức nhóm, đặc biệt nếu có kỹ năng thuyết trình, báo cáo làm việc với nhà đầu tư, chính quyền địa phương, các doanh nghiệp lớn sẵn sàng “trải thảm đỏ” mời các bạn về làm việc. Sau 3-5 năm tích lũy đủ kinh nghiệm, kiến thức nghề, kiến trúc sư có thể dễ dàng thành lập các văn phòng, công ty riêng để hoạt động.

Ngoài ra, sinh viên sau khi tốt nghiệp có nhiều cơ hội làm việc trong môi trường quản lý nhà nước như các phòng kinh tế và hạ tầng, quản lý đô thị, phòng quy hoạch ở các địa phương, sở ban ngành hay uỷ ban nhân dân các cấp.Sinh viên ngành Quy hoạch vùng và đô thị, HƯỚNG DẪN THI MÔN VẼ MỸ THUẬT NHÓM NGÀNH KIẾN TRÚC, QUY HOẠCH KỲ TUYỂN SINH ĐẠI HỌC.Tiến sĩ Lê Quỳnh Chi chia sẻ, ngành Quy hoạch vùng và đô thị là ngành có điểm đầu vào ở mức không quá khó và được giữ ổn định qua các năm. Hàng năm, ngành luôn thu hút đủ lượng sinh viên theo chỉ tiêu tuyển sinh với chất lượng đầu vào đảm bảo việc học tập.

“Sự quan tâm của thí sinh không chỉ thể hiện qua số lượng đầu vào mà còn ở sự trao đổi, tương tác trong thời gian dài trước đó giữa học sinh, phụ huynh và thầy cô thông qua trang fanpage ngành. Nhiều gia đình có phụ huynh, anh chị em đã theo học lĩnh vực quy hoạch tại Trường Đại học Xây dựng Hà Nội đã tin tưởng cho con em tiếp tục theo học”, cô Chi thông tin.

Anh Nguyễn Quang Huy, Trưởng phòng Quy hoạch 5, Viện Quy hoạch và Kiến trúc Đô thị đồng thời là cựu sinh viên Trường Đại học Xây dựng Hà Nội chia sẻ, công tác quy hoạch xây dựng hiện nay rất được chú trọng từ trung ương đến địa phương, ở cả các doanh nghiệp lẫn người dân.

Theo anh Huy, các kiến thức ở trường học giúp sinh viên có góc nhìn tổng quan về nghề, rèn tư duy thiết kế sáng tạo và được tham gia làm nhiều đồ án hoàn chỉnh. Tuy nhiên trong thực tế, khi bắt đầu bước chân vào nghề, kiến trúc sư phải làm từ những việc nhỏ nhất, đơn giản nhất, đòi hỏi tính kiên trì, cẩn thận, tỷ mỉ với mỗi công việc được giao.

“Sinh viên mới ra trường cần nắm chắc và sử dụng thành thạo các phần mềm cơ bản như các ứng dụng tin học văn phòng, Autocad, Photoshop… Ngoài ra, các bạn cần am hiểu hệ thống luật, nghị định, thông tư về lĩnh vực quy hoạch xây dựng. Để tiến xa hơn trong công việc, sinh viên cũng cần có kỹ năng thuyết trình, báo cáo, bảo vệ, kỹ năng phối hợp làm việc nhóm, khả năng tư duy sáng tạo trong thiết kế”, anh Nguyễn Quang Huy cho hay.Cần chuyển đổi hướng đào tạo dựa trên dự án thực tiễn HƯỚNG DẪN THI MÔN VẼ MỸ THUẬT NHÓM NGÀNH KIẾN TRÚC, QUY HOẠCH KỲ TUYỂN SINH ĐẠI HỌC

Chia sẻ về những thuận lợi và khó khăn trong công tác đào tạo ngành Quy hoạch vùng và đô thị Thạc sĩ, Kiến trúc sư Nguyễn Phạm Kim Toàn cho biết, Trường Đại học Kiến trúc Đà Nẵng có đội ngũ giảng viên chất lượng cao, cơ sở vật chất đáp ứng nhu cầu dạy và học. Nhiều khóa tốt nghiệp đảm bảo được yêu cầu công việc của các đơn vị quản lý nhà nước. Chất lượng sinh viên được khẳng định qua nhiều giải thưởng lớn do Hội Quy hoạch Phát triển Đô thị Việt Nam trao và đồ án tốt nghiệp của sinh viên.

Hàng năm, Trường Đại học Kiến trúc Đà Nẵng đều duy trì tuyển sinh ngành Quy hoạch vùng và đô thị với số lượng từ 100 – 120 sinh viên. Tuy nhiên, 5 năm gần đây, việc tuyển sinh gặp nhiều khó khăn và số lượng tuyển sinh không đạt yêu cầu bởi nhiều lý do khác nhau. Từ bối cảnh xã hội đến công việc, thu nhập và đặc thù của ngành nghề đều ảnh hưởng đến đến sự quan tâm của người học. Mặc dù số lượng đầu vào ít, nhà trường vẫn đảm bảo chất lượng đào tạo, chương trình học được rà soát, cải tiến liên tục để đáp ứng nhu cầu xã hội.

Thạc sĩ, Kiến trúc sư Nguyễn Phạm Kim Toàn cho biết thêm, những năm qua, hơn 80% sinh viên ngành Quy hoạch vùng và đô thị ra trường có việc làm theo đúng lĩnh vực, chuyên ngành đào tạo, hơn 10% sinh viên làm việc ở lĩnh vực có kiến thức liên quan.PGS.TS Nguyễn Đình Thi: Thí điểm đào tạo ngành liên quan đến đô thị là cấp bách HƯỚNG DẪN THI MÔN VẼ MỸ THUẬT NHÓM NGÀNH KIẾN TRÚC, QUY HOẠCH KỲ TUYỂN SINH ĐẠI HỌC

“Tuy nhiên, mức thu nhập của sinh viên mới ra trường ở các đơn vị như sở xây dựng các tỉnh thành, sở tài nguyên môi trường, viện quy hoạch xây dựng… chỉ được thanh toán theo định mức và hệ số lương rất hạn chế. Vì vậy, sinh viên ra trường phải rất nỗ lực, thậm chí làm thêm công việc khác để trụ lại với nghề. Điều này phần nào phản ánh công tác đào tạo ngành Quy hoạch vùng và đô thị chưa được xã hội đánh giá đúng vai trò”, Trưởng Bộ môn Quy hoạch, Trường Đại học Kiến trúc Đà Nẵng nhận định.

Đối với Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, việc đào tạo sinh viên ngành Quy hoạch vùng và đô thị có nhiều thuận lợi do đội ngũ giảng viên được đào tạo bài bản, có nhiều năm kinh nghiệm, mạng lưới kết nối với các doanh nghiệp và tổ chức quốc tế rộng. Nhà trường và khoa chú trọng xây dựng hệ sinh thái học tập sáng tạo, tổng hợp để sinh viên có thể giao lưu, trao đổi, phát triển bản thân.

Bên cạnh đó, sinh viên có nhiều cơ hội được đào tạo tích hợp, liên ngành bởi nhiều thầy cô, chuyên gia đến từ các lĩnh vực xây dựng khác nhau như kiến trúc dân dụng, xây dựng dân dụng, giao thông – cầu đường, kinh tế, môi trường, công nghệ thông tin…. Phong trào nghiên cứu khoa học, phong trào làm việc cùng các tổ chức phi chính phủ, tổ chức quốc tế, các hoạt động tham gia khóa học quốc tế ngắn hạn luôn diễn ra sôi nổi. Sinh viên có nhiều cơ hội tiếp cận và trải nghiệm thực tiễn trong tất cả các năm học.

Về mặt khó khăn, cô Chi cho biết, quy hoạch vùng và đô thị vẫn là khái niệm còn mơ hồ với cộng đồng, do đó học sinh phổ thông thường không định hình rõ mình sẽ học gì, làm gì khi học quy hoạch. Đối với sinh viên đã nhập học, điều này được khắc phục qua môn học giới thiệu ngành, cũng như các buổi giao lưu, tiếp xúc với doanh nghiệp và các khóa sinh viên.

Sinh viên ngành Quy hoạch vùng và đô thị, Trường Đại học NGÀNH QUY HOẠCH VÙNG VÀ ĐÔ THỊ, CHUYÊN NGÀNH QUY HOẠCH – KIẾN TRÚC thực hành môn học. 

Để nâng cao chất lượng dạy và học ngành Quy hoạch vùng và đô thị, Tiến sĩ Lê Quỳnh Chi nhận định, công tác truyền thông xã hội cần được đẩy mạnh hơn nữa. Với xu thế phát triển của ngành Quy hoạch vùng và đô thị trên thế giới, cần chuyển đổi hướng đào tạo từ đào tạo chủ yếu lý thuyết trên giảng đường sang đào tạo dựa trên dự án thực tiễn (project-based). Đây là xu hướng các nước đã chuyển đổi, trong đó chú trọng vào các dự án làm việc với cộng đồng.

Cô Chi mong muốn, với sự phát triển của công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, tổ hợp tuyển sinh đầu vào ngành Quy hoạch vùng và đô thị có thể mở rộng hơn nữa. Từ đó, năng lực về nghệ thuật và diễn họa có thể được đào tạo trên giảng đường đại học.

Ngoài ra, với xu hướng toàn cầu hóa, sinh viên cần được tăng cường cơ hội giao lưu với quốc tế, nhìn nhận vấn đề toàn cầu, giải quyết ở quy mô địa phương. Với sự phát triển của công nghệ thông tin, cần gắn kết chặt chẽ giữa công nghệ tiên tiến và kỹ thuật phân tích, thiết kế không gian, để sinh viên có thể tận dụng công nghệ tối đa, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo trong hỗ trợ thiết kế và dữ liệu lớn trong phân tích dữ liệu.

Ngành Quy hoạch vùng và đô thị cần được định hướng trở thành một lĩnh vực tổng hợp và đa ngành. Chương trình học được xây dựng theo hướng xuyên ngành, trong đó chuẩn đầu ra của sinh viên bao gồm kiến thức và kỹ năng của ngành Quy hoạch vùng và đô thị, cùng các lĩnh vực liên quan mật thiết như kinh tế đô thị, khoa học xã hội, công nghiệp văn hóa..