Trường Sĩ quan Công binh (Đh Ngô Quyền)

 Trường Sĩ quan Công binh (Đh Ngô Quyền)

Tên tiếng Anh: Military Engineering Officer School (University Ngo Quyen)

Loại hình: Công An- Quân Đội

Ký hiệu trường: SNH

Hệ đào tạo: Cao đẳng – Trung cấp – Sơ cấp – liên thông – hợp tác quốc tế

Chuẩn đầu ra các ngành Khung đào tạo trình độ trung cấp chuyên nghiệp

Khung chương trình Các ngành đào tạo trình độ cao đẳng

Khung chương trình Các nghề đào tạo hệ cao đẳng nghề

Danh sách các nhóm ngành đào tạo trình độ đại học

Điện thoại/Fax: 02743-859632, 02743-829434

Email: khcn.tsqcb@gmail.com

Địa chỉ: 229B, Đường Bạch Đằng, Phú Cường, TP.Thủ Dầu Một, Bình Dương

Đề điều kiện dự tuyển Chỉ huy Kỹ thuật Công binh 7860228 Thí sinh đăng ký xét tuyển nguyện vọng bổ sung phải đủ các điều kiện sau:Tổ hợp xét tuyển: A00 (Toán, Lý, Hóa) = A01 (Toán, Lý, tiếng Anh)

– Đã tham gia sơ tuyển và được 01 trường Quân đội thuộc nhóm 1 (quy định tại Điểm b, Khoản 3, Điều 27 Thông tư số 31/2024/TT-BQP) thông báo đủ điều kiện sơ tuyển (nhóm 1 gồm các học viện: Hậu cần, Hải quân, Biên phòng, Phòng không-Không quân và các trường sĩ quan: Lục quân 1, Chính trị, Đặc công, Pháo binh, Tăng Thiết giáp, Phòng hóa, Thông tin, Công binh).

– Chưa trúng tuyển hoặc chưa xác nhận nhập học vào bất cứ nơi nào.- Đã tham dự kỳ thi tốt nghiệp THPT năm dangkytuyensinh.edu.vn, có tổng điểm xét tuyển bằng hoặc cao hơn điều kiện trúng tuyển đợt 1 của trường.- Có đủ tiêu chuẩn sức khỏe theo quy định đối với đối tượng dự tuyển vào Trường Sĩ quan Công binh:

+ Tuyển chọn thí sinh nam đạt điểm 1 và điểm 2 theo quy định tại Thông tư liên tịch số 16/2016/TTLT-BYT-BQP ngày 30/6/2016 của Bộ trưởng Bộ Y tế và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định việc khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự, theo các chỉ tiêu: Thể lực (trừ chiều cao, cân nặng có quy định riêng); mắt (trừ tật khúc xạ cận thị có quy định riêng); tai-mũi- họng; răng-hàm-mặt; nội khoa; tâm thần kinh; ngoại khoa; da liễu.

+ Về thể lực: Tuyển thí sinh nam cao từ 1,65 m trở lên, cân nặng từ 50 kg trở lên.

+ Về Mắt: Không tuyển thí sinh mắc tật khúc xạ cận thị.

+ Thí sinh có nơi thường trú từ 3 năm trở lên thuộc khu vực 1, hải đảo và thí sinh là người dân tộc thiểu số: Trường được tuyển thí sinh nam đạt chiều cao từ 1,60 m trở lên, cân nặng từ 48 kg trở lên; các tiêu chí khác thực hiện như đối với thí sinh dự tuyển nói chung.

+ Thí sinh là người dân tộc thiểu số thuộc 16 dân tộc rất ít người theo quy định tại khoản 1, Điều 2 Nghị định số 57/2017/NĐ-CP ngày 09/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ về quy định chính sách ưu tiên tuyển sinh và hỗ trợ học tập đối với trẻ mẫu giáo, học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số rất ít người (gồm các dân tộc: Cống, Mảng, Pu Péo, Si La, Cờ Lao, Bố Y, La Ha, Ngái, Chứt, Ơ Đu, Brâu, Rơ Măm, Lô Lô, Lự, Pà Thẻn, La Hủ): Trường được tuyến thí sinh nam đạt chiều cao từ 1,58 m trở lên, nặng 46 kg trở lên; các tiêu chuẩn khác thực hiện như đối với thí sinh là người dân tộc thiểu số nói chung.Thực hiện Quy định của Ban Tuyển sinh quân sự Bộ Quốc phòng về việc tuyển bổ sung vào đào tạo đại học quân sự tại Trường Sĩ quan Công binh.

Trường Sĩ quan Công binh, tiền thân là các lớp học đầu tiên do Cục Công binh tổ chức và Phân khoa Công binh, thuộc Trường Lục quân Trung học Trần Quốc Tuấn. Ngày 26 tháng 12 năm 1955, tại thôn Nội Ninh, xã Ninh Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Hà Bắc (nay là Bắc Giang) khai giảng lớp học đầu tiên, từ đó ngày 26/12 hàng năm trở thành Ngày truyền thống của Nhà trường. Tháng 3 năm1956: Phân hiệu Công binh chuyển từ Việt Yên về Đáp Cầu (thị xã Bắc Ninh, Hà Bắc); Ngày 27 tháng 4 năm 1964, Phân hiệu Công binh tách khỏi Trường Sĩ quan Lục quân tái thành lập Trường Sĩ quan Công binh. Từ đây Nhà trường chuyển sang thời kỳ xây dựng, phát triển mới.

Trong kháng chiến chống Pháp: Nhà trường đào tạo ngắn hạn cán bộ trung đội, đại đội công binh phục vụ cho các mặt trận. Trong kháng chiến chống Mỹ: Nhà trường đào tạo, bồi dưỡng dài hạn, ngắn hạn cán bộ trung đội, đại đội công binh; bồi dưỡng kỹ thuật và quân sự cho cán bộ dân chính; bồi dưỡng chính trị viên phó đại đội; đào tạo cán bộ quân đội Lào, Campuchia đáp ứng nhu cầu cán bộ cho các chiến trường.

Tháng 3 năm 1977, Nhà trường chuyển địa điểm đóng quân từ Đáp Cầu – Bắc Ninh vào Thủ Dầu Một, Sông Bé (nay là Bình Dương). Lúc này Nhà trường có hai cơ sở đào tạo: cơ sở 1 ở Thủ Dầu Một, cơ sở 2 vẫn đóng quân ở Đáp Cầu – Bắc Ninh.

Ngày 16 tháng 12 năm 1982, thực hiện quyết định của HĐBT, Trường Sĩ  quan Công binh đổi tên thành Trường sĩ quan CHKT Công binh nằm trong hệ thống các trường đại học, cao đẳng của Nhà nước.Bước vào thời kỳ đổi mới: Nhà trường được giao nhiệm vụ đào tạo đa cấp, đa ngành nhiều đối tượng cán bộ, học viên, sinh viên. Cụ thể:

– Đào tạo dài hạn: Sĩ quan phân đội chính trị, quân sự bậc cao đẳng, đại học( 5 năm, 4 năm); sĩ quan 3 năm;  cao đẳng chính trị, quân sự từ nguồn 801;

– Đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn: Trung đội trưởng 801; hoàn thiện sĩ quan phân đội bậc đại học, cao đẳng; cán bộ chỉ huy, tham mưu trung, lữ đoàn công binh;  bồi dưỡng kiến thức chuyển loại cán bộ chính trị; Sĩ quan dự bị;

– Đào tạo trung cấp kỹ thuật: 18 tháng, 3 năm;- Đào tạo nhân viên chuyên môn kỹ thuật sử dụng XMCB; thợ sửa chữa xe máy công binh; hạ sĩ quan chỉ huy;- Đào tạo cao đẳng chỉ huy công binh công trình; tập huấn dò, tìm, xử lý bom, mìn, vật nổ cho Bộ Công an;- Đào tạo Cao đẳng kỹ thuật xây dựng cầu đường bộ (Hệ dân sự);- Đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn cho cán bộ, học viên quân sự hai nước bạn Lào và Cam-pu-chia.

Ngày 31 tháng 12 năm 1997, Tư lệnh Binh chủng Công binh ra Chỉ thị số 78/CT-CB hợp nhất Trường Kỹ thuật Công binh vào trường Sĩ quan CHKT Công binh và lấy tên  Trường Sĩ quan Công binh.

Ngày 21 tháng 9 năm 1998, Thủ tướng Chính Phủ ký Quyết định số 180/1998/QĐ-TTg giao nhiệm vụ đào tạo sĩ quan phân đội bậc đại học.Hiện nay, Nhà trường thường xuyên đào tạo 14 đối tượng, lưu lượng hàng năm bình quân từ 2300 đến 2500 học viên quân sự, 1000 sinh viên dân sự; tham gia nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật quân sự phục vụ cho chức năng, nhiệm vụ được giao.

 

Những lưu ý về việc in sao, vận chuyển, bàn giao đề thi tốt nghiệp THPT

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành công văn số 1523/BGDĐT-QLCL về việc hướng dẫn tổ chức kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm NAY.Theo đó Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn các Sở Giáo dục và Đào tạo; Sở Giáo dục, Khoa học và Công nghệ Bạc Liêu; Cục Nhà trường – Bộ Quốc phòng (gọi chung là các Sở Giáo dục và Đào tạo) gồm một số nội dung trong đó có vấn đề in sao, vận chuyển và bàn giao đề thi tại hội đồng thi.

Việc in sao, vận chuyển và bàn giao đề thi tại Hội đồng thi được thực hiện theo quy định tại Điều 18, Điều 19 Quy chế thi; lưu ý một số điểm sau:

Một là Chủ tịch Hội đồng thi quy định thời gian in sao đề thi; số lượng đề thi in sao; chuyển giao đề thi gốc và hướng dẫn in sao còn nguyên niêm phong cho Trưởng ban In sao đề thi; phương án và thời gian vận chuyển, bàn giao đề thi đến các Điểm thi bảo đảm sát thực tế và an toàn, bảo mật.

Hai là khu vực in sao đề thi là một địa điểm an toàn, kín đáo, biệt lập và được bảo vệ nghiêm ngặt trong suốt thời gian làm việc, có đầy đủ phương tiện bảo mật, phòng cháy, chữa cháy theo quy định. Thực hiện nghiêm túc yêu cầu cách ly theo 03 (ba) vòng độc lập tại khu vực in sao đề thi. Người không có trách nhiệm, tuyệt đối không được vào khu vực in sao đề thi.

Trong khu vực in sao đề thi, không được sử dụng các phương tiện thông tin liên lạc, các loại điện thoại, trừ 01 điện thoại cố định có chức năng ghi âm và có loa ngoài đặt tại vòng 2 được công an kiểm soát liên tục 24 giờ/ngày; mọi cuộc liên lạc đều phải ghi âm, bật loa ngoài, ghi biên bản có chữ ký của các thành phần liên quan.

Công an kiểm tra, xác nhận điều kiện an ninh, an toàn và niêm phong cổng kết nối của các phương tiện, thiết bị cần thiết tại khu vực in sao đề thi trước khi Ban In sao đề thi triển khai công việc tại khu vực này.

Ba là những người làm việc trong khu vực in sao đề thi chỉ được hoạt động trong phạm vi không gian được quy định, theo đúng chức trách, nhiệm vụ được giao. Công việc của các vòng cụ thể như sau:

Vòng 1 – Vòng in sao đề thi: chỉ gồm thành viên Ban In sao đề thi có tiếp xúc trực tiếp với đề thi; là khu vực khép kín, cách ly tuyệt đối với bên ngoài từ khi mở đề thi gốc và bắt đầu in sao đến khi thi xong môn cuối cùng; cửa sổ các phòng phải đóng kín và được công an niêm phong; các khoảng trống thông ra bên ngoài phải bịt kín bằng vật liệu bền, chắc. Hằng ngày, những người ở vòng 1 tiếp nhận vật liệu và đồ ăn, uống từ bên ngoài chuyển vào qua vòng Trưởng ban In sao đề thi cử 01 thành viên mở sổ theo dõi và cập nhật đầy đủ các hoạt động giao tiếp với vòng 2.

Vòng 2 – Vòng bảo vệ trong: chỉ gồm có 01 công an và 01 cán bộ giám sát; là khu vực khép kín, tiếp giáp với vòng 1, cách ly tuyệt đối với bên ngoài đến khi thi xong môn cuối cùng; là đầu mối giao tiếp giữa vòng 3 với vòng 1, có nhiệm vụ tiếp nhận vật liệu và đồ ăn, uống từ vòng 3 chuyển vào vòng 1; kiểm tra các đồ vật từ vòng 1 chuyển ra (bát đũa, đồ ăn, đồ uống,…); mở sổ theo dõi và cập nhật đầy đủ các hoạt động giao tiếp giữa vòng 2 với vòng 1, vòng 2 với vòng 3 và quá trình bàn giao đề thi cho Hội đồng thi để chuyển cho các Điểm thi.

Vòng 3 – Vòng bảo vệ ngoài: tiếp giáp với vòng 2; gồm công an và nhân viên bảo vệ có nhiệm vụ bảo vệ và là đầu mối giao tiếp giữa vòng 2 với bên ngoài; bảo 14 đảm tối thiểu 02 người trực và phải trực liên tục 24 giờ/ngày.

Bốn là, lưu ý về in sao đề thi:Chuẩn bị cơ sở vật chất phục vụ in sao đề thi: Trưởng ban In sao đề thi phải kiểm tra bảo đảm có các phương tiện thiết bị phục vụ in sao đề thi như: máy photocopy siêu tốc (khổ giấy A4 hoặc A3, tốc độ tối thiểu 100 bản một phút; độ phân giải tối thiểu 600 dpi,..), máy sắp xếp tài liệu và máy đếm trang (nếu có),…

Các máy móc, thiết bị không gắn bộ phận thu phát và không nối mạng Internet, phải được công an kiểm tra niêm phong các cổng kết nối và lập biên bản kiểm tra, niêm phong. Mọi phương tiện, thiết bị, vật tư trong khu vực in sao đề thi dù bị hư hỏng hay không dùng đến chỉ được đưa ra ngoài khu vực này khi thi xong bài thi/môn thi cuối cùng của Kỳ thi.

Trong quá trình in sao:In sao đề thi các bài thi/môn thi theo số lượng được giao; chú ý phòng thi ghép các môn Ngoại ngữ.Đối với bài thi tổ hợp, việc in sao, đóng gói thực hiện như sau:

In sao niêm phong theo từng môn thi thành phần (đề thi được xếp trong từng bì/túi đề thi theo thứ tự tăng dần của mã đề thi);

Các bì/túi đề thi của môn thi thành phần được đóng gói vào 01 bì/túi chung, ngoài bì/túi ghi rõ tên môn thi thành phần của bài thi tổ hợp (Khoa học tự nhiên hoặc Khoa học xã hội), ngày thi, phòng thi và Điểm thi.

In đề thi tự luận, trắc nghiệm (đủ tất cả các mã đề) đủ cho 24 thí sinh đối với tất cả các phòng thi của Hội đồng thi. Mỗi bài thi/môn thi ở Điểm thi phải có đề thi dự phòng cho ít nhất 02 phòng thi với số lượng tối đa (đối với đề thi trắc nghiệm phải có đủ tất cả các mã đề thi cho mỗi phòng thi), được đóng trong các bì riêng biệt rồi được đóng chung trong 01 bì/túi ghi rõ ngoài bì/túi “Đề thi dự phòng” và điền đầy đủ các thông tin về bài thi, ngày thi, buổi thi. Sau khi đóng gói xong đề thi từng bài thi/môn thi, Trưởng ban In sao đề thi quản lý các bì/túi đề thi; kể cả các bản in thừa, in hỏng, mờ, xấu, rách, bẩn đã bị loại.

Riêng đề thi của mỗi bài thi/môn thi trắc nghiệm: In sao từng mã đề thi, dập ghim xong (nếu có) mới chuyển sang in sao đến mã đề thi khác; phải kiểm tra đúng mã đề thi, số lượng tờ, thứ tự sắp xếp và chất lượng từng bản sao.Phải có biện pháp cụ thể để phân biệt bì/túi đề thi của các bài thi/môn thi khác nhau, ví dụ: bì/túi đề thi của các môn khác nhau có màu khác nhau hoặc dùng dây buộc và giấy dán có màu khác nhau.