Hợp tác giáo dục Việt Nam & Trung Quốc là điểm Quan trọng

Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Kim Sơn có buổi làm việc với Bộ trưởng Bộ Giáo dục Trung Quốc Hoài Tiến Bằng.Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Việt Nam Nguyễn Kim Sơn và Bộ trưởng Bộ Giáo dục Trung Quốc Hoài Tiến Bằng.Đây là một hoạt động trong khuôn khổ chuyến công tác của Bộ trưởng Nguyễn Kim Sơn và đoàn công tác Bộ GD&ĐT Việt Nam tại Trung Quốc.

Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc sau hơn 15 năm kể từ khi thiết lập khuôn khổ quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện năm 2008 đến nay đã có những bước tiến nhanh chóng.

Những năm gần đây, quan hệ Việt Nam – Trung Quốc phát triển lên một tầm cao mới. Lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước và hai Chính phủ thường xuyên gặp gỡ, tiếp xúc song phương và tại các diễn đàn đa phương với các hình thức linh hoạt. Các lĩnh vực hợp tác giữa hai nước đều phát triển tốt. Trong đó, hợp tác giáo dục và đào tạo là một điểm nhấn quan trọng trong quan hệ hai nước, là một lĩnh vực hợp tác rất thực chất, ngày càng có chiều sâu và kết quả quan trọng.

Trân trọng cảm ơn Bộ trưởng Hoài Tiến Bằng đã mời đoàn công tác Bộ GD&ĐT Việt Nam tới thăm và làm việc tại Trung Quốc, Bộ trưởng Nguyễn Kim Sơn chia sẻ:

Trong bối cảnh Việt Nam còn nhiều khó khăn và nguồn lực còn hạn hẹp, song được sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên, sâu sát của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội và sự hỗ trợ của các nước đối tác quan trọng, giáo dục và đào tạo Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ và đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần to lớn trong việc nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; đóng góp quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế của đất nước.

Một số kết quả cụ thể của giáo dục Việt Nam được Bộ trưởng Nguyễn Kim Sơn thông tin tới người đồng cấp Trung Quốc như: Trong 10 năm qua Việt Nam đã có những đổi mới sâu rộng về giáo dục; đã xây dựng và triển khai Chương trình giáo dục phổ thông mới với những chuẩn mới, phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá mới; đã hoàn thành phổ cập giáo dục với bậc THCS, tiến tới hoàn thành phổ cập giáo dục phổ thông thời gian tới. Hiện nay tỷ lệ người dân biết chữ đạt 98%. Việt Nam có khoảng 52 nghìn trường phổ thông, 243 trường đại học và có một số trường nằm trong nhóm 500 trường đại học hàng đầu thế giới.  >>>Hội nhập Quốc tế CCT liên kết đào tạo với các đối tác của TRUNG QUỐC

“Có một điểm tương đồng giữa giáo dục Việt Nam và giáo dục Trung Quốc, đó là đều được lãnh đạo các cấp của hai nước coi trọng, quan tâm”, nhấn mạnh điều này, Bộ trưởng Nguyễn Kim Sơn đồng thời bày tỏ ngưỡng mộ với kết quả giáo dục và đào tạo của Trung Quốc và mong muốn được học hỏi kinh nghiệm quý báu của giáo dục Trung Quốc từ phát triển các trường phổ thông đến đại học, từ nâng cao dân trí đến bồi dưỡng, phát triển nhân tài cho đất nước.

Khẳng định Bộ GD&ĐT Việt Nam luôn coi trọng quan hệ hợp tác với Trung Quốc, Bộ trưởng Nguyễn Kim Sơn cho biết: Trên cơ sở Hiệp định giữa hai Chính phủ về hợp tác giáo dục do chính hai Bộ trưởng ký năm 2022, nhiều hoạt động hợp tác giáo dục giữa hai nước đã được thực hiện như đào tạo công dân Việt Nam tại Trung Quốc; đào tạo, bồi dưỡng cho giáo viên Việt Nam dạy tiếng Trung; trao đổi giảng viên, sinh viên,… Chỉ tính riêng từ năm 2022 đến nay, Trung Quốc đã tiếp nhận 92 du học sinh Việt Nam sang đào tạo dài hạn tại Trung Quốc.

Để tiếp tục tăng cường hơn nữa hợp tác giáo dục và đào tạo giữa hai nước, Bộ trưởng Nguyễn Kim Sơn đề cập tới một số mong muốn sẽ được Bộ Giáo dục Trung Quốc quan tâm hợp tác, hỗ trợ Việt Nam trong thời gian tới.  >>>Hội nhập Quốc tế CCT liên kết đào tạo với các đối tác của TRUNG QUỐC

Đó là, hỗ trợ đào tạo bồi dưỡng đội ngũ giáo viên dạy tiếng Trung cho Việt Nam và cung cấp tình nguyện viên sang hỗ trợ công tác giảng dạy tiếng Trung; hỗ trợ đào tạo chuyên gia, đào tạo các kỹ sư xuất sắc cho Việt Nam.Mở rộng ngành nghề và cơ sở đào tạo tiếp nhận du học sinh Việt Nam sang đào tạo để có thêm nhiều cơ hội cho du học sinh Việt Nam tham gia học tập, nghiên cứu tại các cơ sở đào tạo trọng điểm của Trung Quốc.

Tăng cường học bổng bậc đại học, đặc biệt là học bổng học các ngành khoa học kỹ thuật, đào tạo cấp chuyên gia ở các trường hàng đầu Trung Quốc. Hỗ trợ Việt Nam trong lĩnh vực mà Trung Quốc có thế mạnh như đường sắt cao tốc, đường sắt đô thị và sinh học, chiến lược phát triển giáo dục, chiến lược phát triển các đại học trọng điểm, chuyển đổi số trong giáo dục, sử dụng các công cụ số, trí tuệ nhân tạo trong giáo dục…

“Cần có cơ chế giao lưu giáo dục giữa 2 nước có tính thường niên, luân phiên theo từng chủ đề. Các diễn đàn giao lưu giáo dục có thể được các trường đại học 2 bên đăng cai tổ chức luân phiên”, gợi mở điều này với Bộ trưởng Hoài Tiến Bằng, Bộ trưởng Nguyễn Kim Sơn cũng đồng thời mời Bộ trưởng Giáo dục Trung Quốc sang thăm và làm việc tại Việt Nam vào dịp thích hợp.

Quang cảnh buổi làm việc giữa Bộ GD&ĐT Việt Nam và Bộ Giáo dục Trung Quốc.Cảm ơn Bộ trưởng Nguyễn Kim Sơn và đoàn công tác Bộ GD&ĐT Việt Nam đã tới làm việc với Bộ Giáo dục Trung Quốc, Bộ trưởng Hoài Tiến Bằng chia sẻ những đánh giá tích cực về giáo dục Việt Nam.

Theo Bộ trưởng Hoài Tiến Bằng, Việt Nam đạt được nhiều thành tựu to lớn, trong đó có sự đóng góp quan trọng của giáo dục và đào tạo. Trong nhiều năm qua, quan hệ về giáo dục giữa Trung Quốc và Việt Nam được triển khai khá rộng, trên nhiều mặt và đạt được nhiều kết quả. Tăng cường giao lưu và hợp tác giáo dục là tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa 2 nước. Trong đó, hai bên chú trọng tăng cường hợp tác bậc phổ thông và đại học.

Giới thiệu một số nét về giáo dục Trung Quốc, Bộ trưởng Hoài Tiến Bằng cho biết: Trung Quốc ưu tiên phát triển giáo dục và đưa giáo dục là một trong những ưu tiên phục vụ phát triển kinh tế.Giáo dục Trung Quốc đạt tiêu chuẩn các nước thu nhập cao và được người dân Trung Quốc đánh giá tốt. Hiện, Trung Quốc đã đạt được tiêu chuẩn phổ cập giáo dục đại học và có nhiều đại học nằm trong nhóm các đại học hàng đầu thế giới.

Bộ trưởng Hoài Tiến Bằng trao đổi về các đề nghị của Bộ GD&ĐT Việt Nam trên tinh thần nhất trí và sẽ hỗ trợ, đáp ứng các đề nghị. Trong đó, sẽ hỗ trợ Việt Nam đào tạo và bồi dưỡng giáo viên dạy tiếng Trung; bồi dưỡng nhân lực trong ngành giao thông và đường sắt cao tốc; có thể hỗ trợ đào tạo các kỹ sư xuất sắc cho Việt Nam.

“Giáo dục kỹ thuật số sẽ là một trong những nội dung hợp tác quan trọng giữa hai nước. Chúng tôi sẽ chia sẻ kinh nghiệm về giáo dục AI với Việt Nam”, trao đổi nội dung này, Bộ trưởng Hoài Tiến Bằng mời Bộ trưởng Nguyễn Kim Sơn sang thăm và tham gia một số diễn đàn chuyển đổi số trong giáo dục tại một số đại học của Trung Quốc, trước mắt là mời Bộ trưởng GD&ĐT Việt Nam tham dự Hội nghị Giáo dục số thế giới năm 2025.

Điều kiện đầu tư, hoạt động trong lĩnh vực giáo dục Quy định Đầu Tư

Chính phủ ban hành Nghị định số 125/2024/NĐ-CP quy định về điều kiện đầu tư và hoạt động trong lĩnh vực giáo dục.Cô trò Trường Tiểu học Thị trấn Hạ Hòa, Phú Thọ.

Nghị định này thay thế Nghị định số 46/2017/NĐ-CP ngày 21/4/2024 của Chính phủ quy định về điều kiện đầu tư và hoạt động trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 135/2018/NĐ-CP ngày 04/10/2018).

Nghị định số 125/2024/NĐ-CP có một số nội dung mới, thay đổi cơ bản so với Nghị định số 46/2017/NĐ-CP và Nghị định số 135/2018/NĐ-CP.

Đơn giản hóa quy định về hoạt động kinh doanh thuộc chức năng quản lý của Bộ GD&ĐT Cô trò Trường Tiểu học Thị trấn Hạ Hòa, Phú Thọ.

Điểm mới thứ nhất là cắt giảm, đơn giản hóa quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ GD&ĐT.

Bộ GD&ĐT đã tham mưu Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 793/QĐ-TTg ngày 6/7/2022 phê duyệt Phương án cắt giảm, đơn giản hóa quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ GD&ĐT.

Trong đó kiến nghị cắt giảm, đơn giản hóa đối với 8 ngành nghề kinh doanh, gồm: Hoạt động của cơ sở giáo dục mầm non; Hoạt động của cơ sở giáo dục phổ thông; Hoạt động của cơ sở giáo dục thường xuyên; Hoạt động của trường chuyên biệt; Hoạt động của cơ sở giáo dục đại học; Hoạt động của cơ sở giáo dục nghề nghiệp; Kiểm định chất lượng giáo dục; Dịch vụ tư vấn du học.

Tại Nghị định 125 sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ những quy định không cần thiết, không hợp lý, không hợp pháp, là rào cản, gây khó khăn cho cá nhân, tổ chức.

Trong đó, tập trung sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ các quy định về điều kiện kinh doanh đối với 8 ngành nghề kinh doanh nêu trên; quy định bổ sung rõ trình tự thực hiện 6 thủ tục hành chính còn vướng mắc trong triển khai thực hiện trên thực tế; bổ sung các biểu mẫu trong thành phần hồ sơ của 68/198 thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ GD&ĐT (đạt 34,3%) và bổ sung quy định về hình thức nộp hồ sơ trực tuyến để kịp thời triển khai thực hiện dịch vụ công trực tuyến toàn trình.

Công nhận đại học vùng, đại học quốc gia

Nghị định 125 đã bổ sung quy định về điều kiện, thẩm quyền, thủ tục công nhận đại học vùng, đại học quốc gia.

Việc này nhằm thực hiện các Nghị quyết của Bộ Chính trị, cũng như để phù hợp với vai trò, vị trí, chức năng của đại học vùng, đại học quốc gia; hình thành đại học vùng, đại học quốc gia trên cơ sở công nhận đại học thành đại học vùng hoặc đại học quốc gia (các đại học này đã được thành lập và đang hoạt động theo quy định, nên việc đặt ra vấn đề thành lập lại là không phù hợp).

Việc hình thành đại học vùng, đại học quốc gia theo hướng này nhằm tận dụng những nguồn lực, thành tựu và ưu thế sẵn có của đại học, để bảo đảm ngay sau khi được hình thành thì đại học vùng, đại học quốc gia có đủ điều kiện để thực hiện chức năng, nhiệm vụ, sứ mệnh được giao.

Về tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục

Việc thành lập, cho phép thành lập; đăng ký hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục; đăng ký bổ sung hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục; đình chỉ hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục; giải thể tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục; công nhận tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục nước ngoài hoạt động ở Việt Nam được quy định tại Chương VII Nghị định 46/2017/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 135) đến nay đã hơn 6 năm triển khai thực hiện.

Cùng với sự ra đời của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học năm 2018 và Luật Giáo dục năm 2019, cũng như kinh nghiệm triển khai nghị định số 46/2017/NĐ-CP và Nghị định số 135/2018/NĐ-CP cho thấy có một số quy định liên quan đến tổ chức kiểm định cần được sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ để phù hợp với bối cảnh thực tiễn.

Vì vậy, tại Nghị định số 125, điều kiện thành lập, cho phép thành lập đối với tổ chức kiểm định trong nước đã được sửa đổi bổ sung phù hợp với quy định của 2 Luật theo hướng quy định cụ thể tường minh các điều kiện, bảo đảm tính khả thi và thực chất phù hợp với mô hình tổ chức công, tư theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Theo đó, tháo gỡ khó khăn do cách hiểu của xã hội chưa thống nhất về việc “độc lập” đối với các tổ chức kiểm định công lập, không làm phát sinh tình huống phức tạp khi phải xây dựng cơ chế đặc thù đối với tổ chức công lập. Tổ chức kiểm định công hoạt động theo mô hình đơn vị sự nghiệp công lập độc lập tự chủ cấp độ 1 theo quy định chung.

Bên cạnh các nội dung quy định điều kiện đối với tổ chức kiểm định trong nước, điều kiện để tổ chức kiểm định nước ngoài được hoạt động tại Việt Nam được sửa đổi theo hướng cụ thể và chặt chẽ hơn để bảo đảm sự công bằng giữa các tổ chức kiểm định trong nước và nước ngoài, với nội dung quy định về điều kiện rõ ràng minh bạch góp phần giảm thời gian giải trình về hồ sơ do sự khác biệt về văn hóa và ngôn ngữ đối với một tổ chức nước ngoài có nguyện vọng hoạt động tại Việt Nam.

Về thủ tục cho phép hoạt động kiểm định cũng được quy định rõ ràng, giảm thời gian thực hiện thủ tục và có hướng dẫn biểu mẫu cụ thể về trình tự thực hiện thủ tục hành chính.

Ngoài ra, Nghị định mới đã bỏ một số nội dung quy định không phù hợp về việc giải thể tổ chức kiểm định; hầu hết các thủ tục liên quan đều được “mẫu hóa” và bổ sung hình thức nộp hồ sơ qua cổng dịch vụ công trực tuyến. Những sự thay đổi này phù hợp với chủ trương chính sách thúc đẩy dịch vụ công và đơn giản hóa thủ tục hành chính của Chính phủ.

Đối với cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông

Về điều kiện thành lập cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông, Nghị định đã chỉnh sửa điều kiện này theo hướng đề án thành lập trường phải “phù hợp với quy hoạch tỉnh và các quy hoạch có liên quan của địa phương” để phù hợp với quy định của Luật Quy hoạch.

Về điều kiện cho phép cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông hoạt động giáo dục, Nghị định quy định các điều kiện cơ bản về đất đai, cơ sở vật chất, thiết bị; chương trình giáo dục; đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý. Những tiêu chuẩn, yêu cầu cụ thể, mang tính chuyên môn, kỹ thuật sẽ được thực hiện theo văn bản chuyên ngành trong lĩnh vực giáo dục.

Đồng thời, bổ sung quy định: “Đối với khu vực nội thành của các đô thị loại đặc biệt, có thể thay thế diện tích khu đất xây dựng trường bằng diện tích sàn xây dựng và phải bảo đảm diện tích sàn xây dựng không thấp hơn diện tích đất bình quân tối thiểu cho một trẻ em/học sinh theo quy định”.

Lý do: tại các khu vực đô thị mới, địa bàn đông dân cư đang gặp tình trạng quá tải trường học, trong khi đó diện tích đất để xây dựng các cơ sở giáo dục tại các khu vực này ngày càng hạn chế. Vì vậy, bổ sung quy định này nhằm khắc phục phần nào những hạn chế này tại các khu vực đô thị có mật độ dân số cao, đặc biệt là Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.

Để bảo đảm nguyên tắc nhà nước đối xử bình đẳng giữa các nhà đầu tư, không phân biệt giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài, Nghị định đã quy định mức vốn đầu tư để cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông trong nước hoạt động tương tự như mức vốn để cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động.

Việc quy định cụ thể về mức vốn bảo đảm hoạt động của trường nhằm bảo đảm các cơ sở giáo dục có đủ nguồn lực tài chính để tổ chức các hoạt động giáo dục cũng như duy trì và phát triển hoạt động của nhà trường; là một trong những yếu tố quan trọng góp phần vào việc bảo đảm và nâng cao chất lượng giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông; tăng cường vai trò và trách nhiệm của nhà đầu tư khi hoạt động trong lĩnh vực giáo dục.

Đối với cơ sở giáo dục thường xuyên

Nghị định số 125 quy định điều kiện, thẩm quyền, thủ tục thành lập một số loại hình cơ sở giáo dục thường xuyên mới theo quy định của Luật Giáo dục 2019, gồm: trung tâm giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên, trung tâm khác thực hiện nhiệm vụ giáo dục thường xuyên.

Đặc biệt, Nghị định đã làm rõ một số loại hình trung tâm khác thực hiện nhiệm vụ giáo dục thường xuyên như sau: trung tâm ngoại ngữ, tin học; trung tâm ngôn ngữ và văn hóa; trung tâm giáo dục kỹ năng sống; trung tâm bồi dưỡng kiến thức văn hóa, nghệ thuật và các trung tâm khác thực hiện chương trình, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực làm việc, cập nhật, bổ sung kiến thức, kỹ năng cần thiết trong cuộc sống đáp ứng nhu cầu người học.

Đối với trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập, Nghị định đã đơn giản hóa quy trình thành lập trung tâm (chuyển từ quy trình thành lập trung tâm theo 02 bước thành lập và cho phép hoạt động giáo dục thành quy trình 01 bước để phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 65 Luật Giáo dục.

Trường chuyên biệt, Nghị định bổ sung quy định cụ thể về điều kiện, thủ tục thành lập và cho phép hoạt động giáo dục, đình chỉ hoạt động, chia, tách, sáp nhập, giải thể trường dự bị đại học; trường năng khiếu nghệ thuật, trường lớp dành cho người khuyết tật để thống nhất với quy định của Luật Giáo dục (Điều 61 đến Điều 63).

Trường cao đẳng sư phạm, cơ sở giáo dục đại học

Đối với trường cao đẳng sư phạm: Nghị định điều chỉnh quy định về diện tích đất xây dựng trường cao đẳng sư phạm để thống nhất với điều kiện về diện tích đất xây dựng trường cao đẳng thuộc lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp.

Đối với trường tư thục, để bảo đảm về nguồn vốn của nhà đầu tư khi đăng ký thành lập trường, bổ sung quy định: “Vốn đầu tư xây dựng trường tư thục phải được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xác nhận”.

Đối với quy định điều kiện để trường được cấp giấy đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp đối với nhóm ngành đào tạo giáo viên trình độ cao đẳng, Nghị định quy định theo hướng cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên cơ hữu và cán bộ quản lý phải đáp ứng yêu cầu hoạt động đối với ngành, lĩnh vực dự kiến đào tạo, quy mô dự kiến tuyển sinh theo quy định của Bộ GD&ĐT; có chương trình đào tạo đáp ứng yêu cầu về khối lượng kiến thức tối thiểu và năng lực mà người học đạt được sau khi tốt nghiệp; giáo trình, tài liệu giảng dạy, học tập đáp ứng yêu cầu của chương trình đào tạo.

Đồng thời, bổ sung quy định về thẩm quyền, trình tự sáp nhập trường cao đẳng vào trường đại học để đáp ứng yêu cầu hiện nay có một số trường cao đẳng mong muốn được sáp nhập vào trường đại học nhưng không có quy định để thực hiện; bỏ quy định về thành lập, giải thể phân hiệu của trường cao đẳng sư phạm vì hiện nay số lượng các trường cao đẳng sư phạm còn rất ít và xu hướng hiện tại có một số trường cao đẳng sư phạm mong muốn được sáp nhập vào cơ sở giáo dục đại học.

Đối với trường đại học, Nghị định quy định điều kiện cho phép trường đại học hoạt động đào tạo theo hướng điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị, chương trình đào tạo, giáo trình, tài liệu, đội ngũ giảng viên cơ hữu và cán bộ quản lý phải đáp ứng yêu cầu hoạt động đối với các ngành, lĩnh vực dự kiến đào tạo, quy mô dự kiến tuyển sinh theo quy định của Bộ GD&ĐT. Quy định này phù hợp với quy định tại Điều 104, 105 Luật Giáo dục về nội dung và thẩm quyền quản lý nhà nước về giáo dục.

Đồng thời, Nghị định đã bổ sung thêm 02 trường hợp bị đình chỉ hoạt động để tăng cường trách nhiệm của cơ sở giáo dục đại học trong bảo đảm chất lượng đào tạo của cơ sở và phân hiệu.

Kinh doanh dịch vụ tư vấn du học

Nghị định bổ sung đối tượng được kinh doanh dịch vụ tư vấn du học là chi nhánh của doanh nghiệp để phù hợp với quy định của Luật Doanh nghiệp là chi nhánh của doanh nghiệp có nhiệm vụ thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng của doanh nghiệp.

Đồng thời, quy định cụ thể thời hạn của giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ tư vấn du học (5 năm) để nâng cao trách nhiệm cũng như chất lượng của tổ chức kinh doanh dịch vụ tư vấn du học và gia hạn quyết định cho phép kinh doanh dịch vụ tư vấn du học.